Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 31-12-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Ngọc Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Ngọc Ngát.

Ông Lã Văn Minh.

- Thư ký phiên tòa:Ông Phan Văn Nam là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 382/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Liễu Thị H, sinh ngày 09 tháng 3 năm 1993

Nơi cư trú: Thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh

Căn cước công dân số: [...].

- Bị đơn: Anh Lâm Văn T, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1989

Nơi cư trú: Thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh.

Căn cước công dân số: [...].

(Chị H và anh T đều vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13-11-2025 và những lời khai tiếp theo của nguyên đơn chị Liễu Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lâm Văn T kết hôn tự nguyện, không bị ép buộc. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã K, tỉnh Bắc Ninh) vào ngày 17 tháng 5 năm 2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không còn tình cảm, không bàn bạc được nhau, thường xảy ra cãi vã, cuộc sống chung không có hạnh phúc, anh T không quan tâm đến gia đình, vợ con. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị thấy không thể tiếp tục chung sống với anh Lâm Văn T, tình cảm vợ chồng đã hết nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lâm Văn T.

Về con chung: Chị và anh T có ba con chung là Lâm Văn K, sinh ngày 19/10/2010, Lâm Thị H1, sinh ngày 11/12/2012 và Lâm Thảo V, sinh ngày 03/9/2018. Trước đây khi vợ chồng ly thân thì cả ba cháu sống cùng anh T, tuy nhiên hiện nay cả ba cháu đều đã chuyển về sống cùng chị. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng ba con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các biên bản lấy lời khai khai, bị đơn là anh Lâm Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Liễu Thị H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã K, tỉnh Bắc Ninh) vào năm 2009. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó anh đi lao động nước ngoài thì vợ anh đi công ty và có mối quan hệ bất chính với người đàn ông khác, vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay chị H làm đơn đề nghị ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng anh có ba con chung là Lâm Văn K, sinh ngày 19/10/2010, Lâm Thị H1, sinh ngày 11/12/2012 và Lâm Thảo V, sinh ngày 03/9/2018. Nay ly hôn, anh nhất trí để chị H nuôi dưỡng ba con chung, việc cấp dưỡng chị H không yêu cầu cấp dưỡng anh nhất trí.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị H làm đơn thì chị H sẽ phải chịu án phí.

Do lý do công việc nên anh xin vắng mặt trong quá trình giải quyết, hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử.

Tại biên bản lấy lời khai, cháu Lâm Văn K trình bày: Hiện cháu đang sống với mẹ và đang học tại trường Trung tâm G. Trường hợp bố mẹ không sống cùng nhau nữa thì cháu có nguyện vọng sống cùng mẹ.

Tại biên bản lấy lời khai, cháu Lâm Thị H1 trình bày: Hiện cháu đang sống với mẹ và đang học tại trường Trung học cơ sở xã K số 1. Trường hợp bố mẹ không sống cùng nhau nữa thì cháu có nguyện vọng sống cùng mẹ.

Tại biên bản lấy lời khai, cháu Lâm Thảo V trình bày: Hiện cháu đang sống với mẹ và đang học tại trường Tiểu học K. Trường hợp bố mẹ không sống cùng nhau nữa thì cháu có nguyện vọng sống cùng mẹ.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Liễu Thị H, bị đơn anh Lâm Văn T đều vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời khai, tóm tắt nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 6, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Liễu Thị H được ly hôn anh Lâm Văn T.

- Về con chung: Giao cho chị Liễu Thị H là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng con chung là Lâm Văn K, sinh ngày 19/10/2010, Lâm Thị H1, sinh ngày 11/12/2012 và Lâm Thảo V, sinh ngày 03/9/2018.

- Về án phí: Chị Liễu Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Liễu Thị H khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, giải quyết về nuôi con chung với anh Lâm Văn T. Bị đơn anh Lâm Văn T hiện đang cư trú tại thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án.

[2] Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Liễu Thị H, bị đơn anh Lâm Văn T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh T.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Liễu Thị H và anh Lâm Văn T tự nguyện kết hôn, trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Bắc Ninh) vào ngày 17 tháng 05 năm 2010. Như vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Trong quá trình chung sống chị H anh T đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, xích mích. Chị H cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau. Anh T cũng xác định cuộc sống có mâu thuẫn, nguyên nhân theo anh là do chị H có quan hệ ngoại tình. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng chị H và anh T đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì thấy rằng: Tình trạng của vợ chồng chị H, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần cho chị H được ly hôn với anh T.

[5] Về con chung: Chị Liễu Thị H và anh Lâm Văn T có ba con chung Lâm Văn K, sinh ngày 19/10/2010, Lâm Thị H1, sinh ngày 11/12/2012 và Lâm Thảo V, sinh ngày 03/9/2018. Hội đồng xét thấy: Hiện nay các con chung đang ở với chị H, được chăm nom, chăm sóc đầy đủ và đi học bình thường; con đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với mẹ. Chị H có đủ điều kiện để nuôi dưỡng ba con chung phát triển bình thường. anh T cũng đồng ý để ba con chung cho chị H nuôi dưỡng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần giao cho chị Liễu Thị H là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng ba con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét, giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

[6] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Liễu Thị H, anh Lâm Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết ly hôn, con chung, nghĩa vụ chịu án phí giữa chị Liễu Thị H và anh Lâm Văn T phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án;
  • - Điều 4 và 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
  • - Điều 6 và 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Liễu Thị H được ly hôn anh Lâm Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung là Lâm Văn K, sinh ngày 19/10/2010, Lâm Thị H1, sinh ngày 11/12/2012 và Lâm Thảo V, sinh ngày 03/9/2018 cho chị Liễu Thị H trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh Lâm Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Liễu Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003856 ngày 24 tháng 11 năm 2025 của phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5 – Bắc Ninh. Xác định chị Liễu Thị H đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn là chị Liễu Thị H, bị đơn là anh Lâm Văn T không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 5 - Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 5 - Bắc Ninh;
  • - UBND xã Kiên Lao, tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Ngọc Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 87/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 382/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger