Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 839/2025/DS-PT

Ngày: 25-12-2025

V/v: “Góp hụi”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Các Thẩm phán:

  1. Bà Trịnh Thị Phúc
  2. Bà Huỳnh Thị Hồng Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 499/2025/TLPT- DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Góp hụi.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 601/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thúy D, sinh năm 1971; Địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh.
  2. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Thị Q, sinh năm 1967; Địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh (Theo văn bản ủy quyền ngày 28/11/2024).

  3. Bị đơn: Bà Trần Thị Lệ X, sinh năm 1975; Địa chỉ: số A, ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh.
  4. Người kháng cáo: Bà Trần Thị Lệ X.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của bà Trần Thị Thúy D và những lời trình bày tại phiên tòa của đại diện nguyên đơn là bà Võ Thị Q như sau: Do quen biết, bà Trần Thị Lệ X có tham gia chơi hụi do bà Trần Thị Thúy D làm chủ, sau khi hốt hụi bà X không đóng hụi nên còn nợ số tiền 79.800.000đồng. Cụ thể như sau:

Dây 1: Hụi 5.000.000đồng/tháng, mở ngày 15/11/2022, gồm 25 phần, bà X tham gia 01 phần, thỏa thuận hụi sống đóng 5.000.000đồng, hụi chết đóng 6.000.000đồng. Ngày 15/3/2023 bà X hốt được số tiền 126.000.000đồng. Tháng 4/2024 bà X ngưng đóng hụi. Tính đến ngày 05/11/2024 bà X còn nợ 7 kỳ hụi với số tiền 7 kỳ x 6.000.000đồng/tháng = 42.000.000đồng.

Dây 2: Hụi 3.000.000đồng/tháng, mở ngày 10/12/2022, gồm 24 phần, bà X tham gia 1,5 phần, thỏa thuận hụi sống đóng 3.000.000đồng, hụi chết đóng 3.600.000đồng. Tháng 6/2023 bà X hốt 70.200.000đồng. Ngày 15/01/2024 bà X hốt nữa phần còn lại được số tiền 37.900.000đồng. Tháng 4/2024 bà X ngưng đóng hụi. Tính đến ngày 10/11/2024 bà X nợ số tiền 7 kỳ x 1,5phần x 3.600.000đồng/tháng = 37.800.000đồng.

Bà X còn nợ bà D số tiền hụi 79.800.000đồng. Bà D yêu cầu bà Trần Thị Lệ X trả số tiền hụi còn nợ 79.800.000đồng, không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị Lệ X trình bày: Bà có tham gia chơi hụi do bà D làm chủ.

Bà không nhớ thời gian mở hụi, dây 3.000.000đồng/tháng, hụi sống đóng 3.0000.000đồng, hụi chết đóng 3.600.000đồng, bà tham gia 1,5 phần. Dây hụi này bà đóng tiền đầy đủ và đã hốt hụi, hụi đã mãn tháng 11/2024.

Tháng 4/2024 bà D tuyên bố vỡ hụi nhưng bà vẫn đóng tiền hụi đầy đủ cho bà D. Khi đóng tiền giao trực tiếp cho bà D.

Bà xác định không có tham gia dây hụi 5.000.000đồng như lời trình bày của đại diện nguyên đơn và không có nợ tiền hụi của bà D.

Bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà D.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tây Ninh đã tuyên:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thúy D về việc “tranh chấp hụi” với bà Trần Thị Lệ X.
    1. Buộc bà Trần Thị Lệ X phải trả cho Trần Thị Thúy D số tiền hụi còn nợ là 79.800.000đồng.
    2. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Trần Thị Lệ X phải chịu số tiền 3.990.000đồng.
    2. Hoàn trả cho bà Trần Thị Thúy D số tiền án phí đã nộp là 1.995.000đồng theo biên lai thu số 0011579 ngày 26/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5- Tây Ninh).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ cấp thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực.

Ngày 11/9/2025, bà Trần Thị Lệ X có kháng cáo. Đề nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thúy D.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo và giữ nguyên ý kiến trình bày của mình trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp thêm chứng cứ mới. Các bên đương sự không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Lê X1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục:
    1. Đơn kháng cáo của bà Trần Thị Lệ X làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
    2. Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    3. Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về nội dung: Bà X kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm xem xét giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa phúc thẩm giải quyết trong phạm vi kháng cáo của bà X.
    1. Xét thấy: Bà D xác định có mở 02 dây hụi và bà X có tham gia hụi do bà D làm chủ và yêu cầu X trả số tiền hụi còn nợ là 79.800.000đồng. Bà X xác định có tham gia 01 dây hụi 3.000.000đồng/tháng do bà D làm chủ, không có tham gia hụi 5.000.000đồng/tháng.
    2. Đối với dây hụi 3.000.000đồng/tháng: Xét thấy, giữa bà D và bà X có thỏa thuận tham gia chơi hụi 3.000.000đồng/tháng, mở ngày 10/12/2022, thỏa thuận hụi sống đóng 3.000.000đồng/tháng, hụi chết đóng 3.600.000đồng/tháng, bà X đã hốt hụi xong, hai bên thống nhất tháng 4/2024 bà D tuyên bố vỡ hụi, bà X cho rằng đã đóng hụi chết đầy đủ không có nợ tiền hụi của bà D, nhưng bà X không có chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình, nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D, buộc bà X trả cho bà D số tiền hụi còn nợ là 37.800.000đồng là có căn cứ.
    3. Đối với dây hụi 5.000.000đồng/tháng: Xét thấy, Bà X xác định không có tham gia chơi dây hụi này, nhưng bà X thừa nhận chữ ký Trần Thị Lệ X trong giấy hốt hụi ngày 15/3/2023 là do bà ký tên. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, ... mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Theo giấy hốt hụi ngày 15/3/2023 có nội dung: “Tôi tên Trần Thị Lệ X, sinh 1975 ngày 15/11/2022 tôi có chơi 1 phần hụi 5.000.000đ (5 triệu), một tháng khui một lần, dây hụi gồm 25 người tham gia do bà Trần Thị Thúy D làm chủ hụi. Ngày 15/3/2023 tôi đã hốt phần hụi trên số tiền hốt được 126.000.000đ (một trăm hai mươi sáu triệu)...”. Bà X xác định đến tháng 4/2024 bà D tuyên bố bể hụi, đại diện bà D xác định hụi nay đã mãn, các hụi viên tham gia chơi hụi đều được hốt hụi đầy đủ, bà D đã đóng hụi thay cho bà X. Do bà X đã hốt hụi nhưng không thực hiện nghĩa vụ đóng số tiền hụi chết cho bà D. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà X phải trả cho bà D số tiền hụi còn nợ 42.000.000đồng là phù hợp.
    4. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo bà Trần Thị Lệ X không có căn cứ nên không chấp nhận, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
  3. Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị Lệ X phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Lệ X.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tây Ninh).

Căn cứ Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 148, Điều 272, Điều 273 và Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều 357, Điều 471 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Điều 6, Điều 26, Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thúy D về việc “tranh chấp hợp đồng hụi” với bà Trần Thị Lệ X.
    1. Buộc bà Trần Thị Lệ X phải trả cho Trần Thị Thúy D số tiền hụi còn nợ là 79.800.000đồng (Bảy mươi chín triệu, tám trăm nghìn đồng).
    2. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Trần Thị Lệ X phải chịu số tiền 3.990.000đồng (Ba triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) án phí.
    2. Hoàn trả cho bà Trần Thị Thúy D số tiền án phí đã nộp là 1.995.000đồng (Một triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0011579 ngày 26/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5- Tây Ninh).
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị Lệ X phải phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà X đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0004140 ngày 11/9/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Tây Ninh.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trịnh Thị Phúc- Huỳnh Thị Hồng Vân Phùng Thị Cẩm Hồng

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND khu vực 5 - Tây Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 5 - Tây Ninh;
  • - Các đương sự
  • - Lưu HS, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Cẩm Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 839/2025/DS-PT ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về góp hụi

  • Số bản án: 839/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Góp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger