Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 83/2025/HS - ST
Ngày: 25 - 12 - 2025
 

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Diên Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tình và bà Vũ Thị Thịnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An tham gia phiên tòa: ông Hà Đức Thắng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 12 năm 2025, điểm cầu tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Nghệ An và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh N xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2025/TLST - HS ngày 04 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Xuân T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/11/1974 tại xã Q, tỉnh Nghệ An, CCCD số: 040074028995; Nơi cư trú: thôn B, xã Q, tỉnh Nghệ An; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; con ông Phạm Xuân D và bà Lê Thị C; vợ Lê Thị T1, con: Có 02 người. Con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  2. Hồ Sỹ H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 19/12/1990, tại xã Q, tỉnh Nghệ An, CCCD số: 040090029727; Nơi cư trú: khối E (nay là thôn E Cầu G), xã Q, tỉnh Nghệ An; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; con ông Hồ Sỹ T2 và bà Nguyễn Thị H1; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Lam S, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 27/8/1983, tại xã Q, tỉnh Nghệ An, CCCD số: 040083014593; Nơi cư trú: khối E(nay là thôn E Cầu G), xã Q, tỉnh Nghệ An; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Chí T3 và bà Bùi Thị H2; Vợ: Võ Thị H3, con: Có 02 người. Con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Kế T4, sinh năm 1989, vắng mặt;
  2. Chị Võ Thị H3, sinh năm 1995, có mặt;
  3. Địa chỉ: K (nay là thôn E Cầu G), xã Q, tỉnh Nghệ An.

  4. Chị Nguyễn Thị T5, sinh năm 1990, vắng mặt;
  5. Địa chỉ: K (nay là thôn A Cầu G), xã Q, tỉnh Nghệ An.

Người chứng kiến: Anh Lê Văn S1, sinh năm 1977, vắng mặt;

Địa chỉ: Thôn H, xã Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu mua ma túy về sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời nên vào khoảng đầu tháng 7 năm 2025, Hồ Sỹ H liên hệ với Phạm Xuân T để hỏi mua ma túy. Khi liên lạc H hỏi T “Có chỗ mô lấy không, để cho em nửa đàn, em lên lấy” (N đàn ý là 100 viên ma túy hồng phiến) thì T trả lời “Để hỏi coi thử răng đã” rồi báo giá là 6.000.000 đồng thì Hòa đồng Ý. Khoảng 02 đến 03 ngày sau thì Phạm Xuân T tìm gặp những người làm nghề lái xe ôm (không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) ở khu vực thị trấn C (cũ) (Nay là xã Q, tỉnh Nghệ An) để hỏi mua ma túy và mua được tổng số 102 (một trăm linh hai) viên ma túy hồng phiến. Sau khi mua được ma túy T đưa về nhà mình tại thôn B, xã Q, tỉnh Nghệ An rồi lấy ra 02 (hai) viên bỏ dưới chân tủ quần áo trong phòng ngủ nhằm mục đích có ai hỏi mua thì sẽ bán lại, còn 100 viên ma túy còn lại T bỏ vào trong bao thuốc lá Thăng L cầm đi đến khu vực đường tàu gần cây xăng “Kiên L1” thuộc thôn B, xã Q, tỉnh Nghệ An lấy một viên đá chèn lên và điện thoại cho Hồ Sỹ H rồi hướng dẫn H đi đến vị trí đó để lấy ma túy. Sau đó, H bắt taxi đi đến vị trí theo hướng dẫn của T thì thấy có một bao thuốc lá Thăng Long để dưới một viên đá, H mở ra xem thấy bên trong có một gói nilong màu trắng chứa nhiều viên nén hình tròn màu hồng, H biết đây là số ma túy mà T bán nên cất vào trong người rồi lấy số tiền 6.000.000 đồng bỏ vào trong vỏ bao thuốc lá T và đặt lại vị trí nơi lấy ma túy rồi đi về nhà. Sau khi mua được ma túy, hàng ngày H lấy ra để sử dụng, còn lại 56 viên ma túy hồng phiến H cất trong túi áo khoác treo trong tủ quần áo tại phòng ngủ của H.

Đến khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 15/7/2025, khi Nguyễn Lam S đang ở nhà thì có một tài khoản Zalo tên “Ke” (S quen biết qua mạng xã hội Zalo nhưng không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) gọi điện, nhắn tin đến tài khoản Zalo của S tên là “N” được đăng ký bằng số điện thoại “0386575401” nói “Nhờ lấy cho em 500.000 đồng ma túy hồng phiến đưa đến cầu bèo cho em, em cho 50.000 đồng”, do S biết H có ma túy để bán nên S đồng ý mua ma túy cho người tên “Ke” để bán lại kiếm lời.

Sau đó S sử dụng tài khoản Facebook Messenger tên “Nguyễn S” nhắn tin và gọi điện đến tài khoản tên “Hồ Sỹ H” hỏi H là “Còn không” (ý hỏi còn ma túy không) thì H trả lời “Chuyển khoản à, dắt cột” thì S nhắn tin lại “560, bỏ cho anh sáu con, tý anh chuyển khoản” (ý của S hỏi mua 06 viên ma túy hồng phiến) thì H nhắn lại “Ừ”. Sau đó, H lấy 06 (S2) viên ma túy hồng phiến bỏ vào trong túi nilong màu trắng, cuộn bên ngoài là một lớp lấy giấy vệ sinh màu trắng đi ra đầu ngõ dắt ở cột cổng gần nhà mình. Sau khi nhắn tin trao đổi với H về việc mua bán ma túy xong thì S nhắn tin số tài khoản “5150293167” của “Hồ Sỹ H” mở tại ngân hàng B cho người tên “Ke” biết và yêu cầu chuyển số tiền 550.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của H, một lúc sau người tên “Ke” gửi hình ảnh đã chuyển tiền qua Z cho S biết với nội dung “ke chuyển tiền” (người tên K nhờ chị Nguyễn Thị T5, sinh năm 1990, trú tại khối A, xã Q, tỉnh Nghệ An chuyển tiền hộ). Khi biết người tên “Ke” đã chuyển tiền cho H, S nhắn tin cho H hỏi “Quăng chưa” (ý là để ma túy ở đâu) thì H trả lời “Dắt ở cột nhà ông X đó”. Lúc này, S điều khiển xe máy điện màu đỏ nhãn hiệu ESPERO Classic không gắn biển kiểm soát của chị Võ Thị H3 (là vợ S) đi đến trước khu vực nhà ông X để tìm ma túy nhưng không thấy nên S gọi điện thoại để H chỉ lại vị trí cất ma túy thì H từ trong nhà đi ra lấy gói ma túy để trên cột cổng, vứt xuống nền đường chỉ cho S đến lấy, S điều khiển xe đến nhặt gói ma túy, cầm ở tay điều khiển xe máy điện đi đến một đoạn đường vắng mở ra xem thấy bên trong có chứa 06 (sáu) viên ma túy hồng phiến. Sau khi đã mua được ma túy, S mang về nhà lấy ra 02 viên, sử dụng hết 01 viên, 01 viên còn lại S để trong túi nilong màu trắng cất ở trong ngăn kéo bàn trang điểm trong phòng ngủ mục đích khi có người hỏi mua thì sẽ bán lại để kiếm lời. Sau khi sử dụng ma túy xong, S cầm 04 (Bốn) viên ma túy đựng trong túi nilong màu trắng trên tay trái điều khiển xe máy điện đi giao ma túy cho người tên “Ke”. Khi S đang đi trên đường Q thuộc địa phận thôn H, xã Q, tỉnh Nghệ An thì bị Công an xã Q, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang. Thu giữ 04 viên ma túy hồng phiến, 01 (một) chiếc điện thoại Samsung A15 và 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPERO Classsic.

Ngày 15/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an N tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Lam S thu giữ 01 (một) viên ma túy hồng phiến.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hồ Sỹ H thu giữ của H 01 (một) gói nilong màu trắng bên trong chứa 50 (năm mươi) viên nén hình tròn màu hồng và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0974890393.

Đến ngày 16/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã thi Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Xuân T thu giữ của T 02 (hai) viên nén hình tròn màu hồng và 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0377524619.

Kết quả test chất ma túy trong nước tiểu của Phạm Xuân T, Hồ Sỹ H và Nguyễn Lam S đều cho kết quả dương tính với ma túy.

Ngày 15, 16/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định:

  • + 04 (bốn) viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Nguyễn Lam S có tổng khối lượng là 0,39gam (không phẩy ba chín). Cơ quan điều tra đã lấy 02 (hai) viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,21 gam (không phẩy hai mốt) để đi trưng cầu giám định.
  • + 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Nguyễn Lam S có tổng khối lượng là 0,10 gam (không phẩy một không). Cơ quan điều tra đã lấy hết 01 (một) viên để đi trưng cầu giám định.
  • + 02 (hai) viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Phạm Xuân T có tổng khối lượng là 0,15 gam (không phẩy mười lăm). Cơ quan điều tra đã lấy hết 02 (hai) viên để đi trưng cầu giám định.
  • + 50 (năm mươi) viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Hồ Sỹ H có tổng khối lượng là 4,93 gam (bốn phẩy chín ba). Cơ quan điều tra đã lấy 10 (mười) viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,98 gam (không phẩy chín tám) để đi trưng cầu giám định.
  • - Tại Bản Kết luận giám định số 256/KL-KTHS (Đ2) ngày 22/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu viên nén hình tròn, màu hồng thu giữ tại chỗ ở của Nguyễn Lam S vào ngày 15/7/2025 gửi đến giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine có khối lượng là 0,1g (Không phẩy một gam).
  • - Tại Kết luận giám định số 258/KL-KTHS (Đ2) ngày 22/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu viên nén hình tròn, màu hồng thu giữ của Nguyễn Lam S vào ngày 15/7/2025 gửi đến giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,39g (Không phẩy ba mươi chín gam) (bút lục 102).
  • - Tại Kết luận giám định số 257/KL-KTHS (Đ2) ngày 22/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu viên nén hình tròn, màu hồng thu giữ của Hồ Sỹ H vào ngày 15/7/2025 gửi đến giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng là 4,93g (Bốn phẩy chín mươi ba gam).
  • - Tại Kết luận giám định số 261/KL-KTHS (Đ2) ngày 23/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu viên nén hình tròn, màu hồng thu giữ của Phạm Xuân T vào ngày 16/7/2025 gửi đến giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine của Phạm Xuân T có tổng khối lượng là 0,15g (Không phẩy mười lăm gam).

Quá trình điều tra xác định: Trong vụ án này nguồn gốc số ma túy thu giữ của Hồ Sỹ H và Nguyễn Lam S vào ngày 15/7/2025 và số ma túy thu giữ tại chỗ ở của Phạm Xuân T vào ngày 16/7/2025 nêu trên đều là của bị cáo Phạm Xuân T. Tất cả các viên ma túy bị thu giữ và các bị cáo đã sử dụng đều có đặc điểm hình dạng, màu sắc, loại ma túy tương đồng với nhau. Do đó, mặc dù Hồ Sỹ H đã sử dụng hết 44 (Bốn mươi bốn) viên ma túy hồng phiến và Nguyễn Lam Sơn S đã sử dụng hết 01 (Một) viên ma túy hồng phiến nhưng căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của các bị cáo Phạm Xuân T, Hồ Sỹ H, Nguyễn Lam S là phù hợp với nhau, phù hợp thời gian, địa điểm mua bán nên có đủ cơ sở xác định: Phạm Xuân T đã bán cho Hồ Sỹ H 100 viên ma túy hồng phiến có tổng khối lượng gồm: (50 viên ma túy thu giữ tại chỗ ở của H có khối lượng 4,93 gam) + (04 viên ma túy thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Lam S có khối lượng 0,39 gam + (01 viên ma túy thu giữ tại chỗ ở của Nguyễn lam S có khối lượng 0,1 gam: 55 viên) x 100 viên = 9,85 gam (01 viên ma túy có khối lượng trung bình là 0,0985 gam) và 02 viên ma túy thu giữ tai chỗ ở của Phạm Xuân T mục đích mua bán có khối lượng 0,15 gam. Tổng 102 viên ma túy có khối lượng là 10 gam (mười). Đối với 44 viên ma túy mà Hồ Sỹ H đã sử dụng hết và 01 viên ma túy Nguyễn Lam S đã sử dụng hết (theo lời khai của bị can H và bị can S) do không thu giữ được nên không có căn cứ để xử lý.

Như vậy, bị cáo Phạm Xuân T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép đối với 100 viên ma túy có khối lượng 9,85 gam đã bán cho H và 02 viên ma túy bị thu giữ khi khám xét chỗ ở có khối lượng là 0,15 gam, tổng khối lượng (102) viên là 10 gam (mười) ma túy (Methamphetamine). Bị cáo Hồ Sỹ H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép đối với 06 viên ma túy có khối lượng 0,59 gam đã bán cho Nguyễn Lam S và 50 viên ma túy bị thu giữ khi khám xét chỗ ở có khối lượng là 4,93 gam, tổng khối lượng 56 viên ma túy mà Hồ Sỹ H phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này là 5,52 gam (Năm phẩy năm hai) ma túy (Methamphetamine). Bị cáo Nguyễn Lam S phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép đối với 04 viên ma túy có khối lượng 0,39 gam thu giữ khi bị bắt quả tang và 01 viên ma túy có khối lượng 0,1 gam bị thu giữ khi khám xét chỗ ở, tổng khối lượng 05 (Năm) viên ma túy mà Nguyễn Lam S phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này là 0,49 gam (Không phẩy bốn chín) ma túy (Methamphetamine).

Tại Cơ quan điều tra Hồ Sỹ H và Nguyễn Lam S đã thừa nhận và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Đối với Phạm Xuân T, những lời khai ban đầu thừa nhận và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tuy nhiên, sau đó thay đổi lời khai (Từ ngày 28/8/2025 thay đổi lời khai đến ngày 14/10/2025 tiếp tục thay đổi lời khai). Lời khai ban đầu Phạm Xuân T khai nhận số ma túy T bán cho Hồ Sỹ H là mua của Nguyễn Kế T4, sinh năm 1989, trú tại khối E, xã Q, tỉnh Nghệ An nhưng những lời khai sau T thay đổi lời khai và khai số ma túy bán cho Hồ Sỹ H không phải mua của Nguyễn Kế T4 mà mua của những người lái xe ôm tại khu vực thị trấn C (cũ) (Nay là xã Q, tỉnh Nghệ An); Sau đó Phạm Xuân T tiếp tục thay đổi lời khai không thừa nhận việc đã bán ma túy cho Hồ Sỹ H.

Cáo trạng số 39/CT - VKS - KV4 ngày 03/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Phạm Xuân T, Hồ Sỹ H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Lam S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Sỹ H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Lam S từ 40 đến 46 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Về vật chứng:

  • Ma tuý là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 (Một) Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, số imei: 35945649291272 thu giữ của Hồ Sỹ H; 01 (Một) Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen, số imei: 35396510119250 thu giữ của Phạm Xuân T; 01 (Một) Chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy A15 màu xanh tím than, số imeil: 357301902537621, số imei2: 357371952537620 thu giữ của Nguyễn Lam S các tài sản nêu trên do dùng vào việc phạm tội nên tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.
  • Trả lại cho chủ sở hữu chị Võ Thị H3 01 (Một) Chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPERO Classic màu đỏ, số máy: JYX60V1600W412528, số khung: RPEY4ENPENA412528 thu giữ của Nguyễn Lam S.
  • Truy thu số tiền 6.000.000 đồng do bị cáo Phạm Xuân T bán ma túy cho Hồ Sỹ H mà có.
  • Truy thu số tiền 550.000 đồng do bị cáo H bán ma túy cho Nguyễn Lam S mà có.

Đối với Nguyễn Kế T4 theo lời khai ban đầu của Phạm Xuân T là người đã bán ma túy cho T, tuy nhiên T4 khai không bán ma túy cho T, đồng thời những lời khai sau đó T khai không mua ma túy của T4. Ngoài ra, không có tài liệu nào để chứng minh T4 có hành vi mua bán ma túy với T nên không có căn cứ để xử lý đối với T4.

Đối với những người làm nghề lái xe ôm tại thị trấn C (cũ), nay thuộc xã Q, tỉnh Nghệ An đã bán ma túy cho Phạm Xuân T theo lời khai của T. Do T không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với người sử dụng tài khoản Zalo tên “Ke” liên hệ nhờ Nguyễn Lam S đi mua ma túy. Do S không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể, đồng thời Cơ quan điều tra đã có Công văn gửi đến Công ty cổ phần T8 để xác minh thông tin tài khoản Zalo tên “Ke” nhưng không xác định được thông tin của tài khoản. Do đó không có căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ để xử lý.

Đối với Nguyễn Thị T5 là chủ của số tài khoản 0451000318028 mở tại ngân hàng V và là người đã chuyển hộ cho một người đàn ông tên “Ke” số tiền 550.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của Hồ Sỹ H vào ngày 15/7/2025 nhưng không biết mục đích chuyển tiền để người này mua ma túy nên không phải chịu trách nhiệm.

Đối với chị Võ Thị H3, sinh năm 1995, trú tại khối E, xã Q là vợ của Nguyễn Lam S là chủ chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPERO Classic, khi S sử dụng chiếc xe máy điện trên đi mua bán ma túy thì chị H3 không biết, đồng thời việc S cất giấu ma túy tại phòng ngủ thì chị H3 cũng không biết nên không phải chịu trách nhiệm.

Đối với người lái xe Taxi chở Hồ Sỹ H đi mua ma túy do H không biết rõ tên tuổi địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ để xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Lam S, Hồ Sỹ H, Phạm Xuân T đã vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Các bị cáo không thuộc các trường hợp quy định trong cấu thành tội phạm “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tỉnh N để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố là đúng; các bị cáo không có ý kiến gì. Các bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt. Các bị cáo chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo Phạm Xuân T, Hồ Sỹ H và Nguyễn Lam S tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh N; lời khai của những người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng tháng 07 năm 2025, tại khu vực đường tàu gần cây xăng “Kiên L1” thuộc thôn B, xã Q, tỉnh Nghệ An, Phạm Xuân T đã bán cho Hồ Sỹ H 100 (một trăm) viên ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 9,85 gam (chín phẩy tám lăm) với số tiền 6.000.000 đồng và 02 (hai) viên ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 0,15gam (không phẩy mười lăm) thu giữ tại chỗ ở của T mục đích T bán lại cho người khác để kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy Phạm Xuân T đã bán cho Hồ Sỹ H và cất dấu để bán lại cho người khác và phải chịu trách nhiệm hình sự là 10 gam (mười) (Methamphetamine).

Ngày 15/7/2025, tại khu vực trước cổng nhà mình thuộc khối E, xã Q, tỉnh Nghệ An, Hồ Sỹ Hđã bán cho Nguyễn Lam S06 (sáu) viên ma túy (Methamphetamine) có khối lượng là 0,59 gam (không phẩy năm chín) và 50 (năm mươi) viên ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 4,93 gam thu giữ tại chỗ ở của H mục đích H bán lại cho người khác để kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy Hồ Sỹ H đã bán cho Nguyễn Lam S và cất dấu để bán lại cho người khác và phải chịu trách nhiệm hình sự là 5,52 gam (Năm phẩy năm hai) ma túy (Methamphetamine).

Ngày 15/7/2025, tại khu vực đường Q thuộc thôn H, xã Q, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Lam S đã bán cho người tên “Ke” 04 (bốn) viên ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 0,39 gam và 01 (một) viên ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 0,1 (không phẩy một) gam, tổng khối lượng ma túy Nguyễn Lam S bán cho người tên “Ke” và cất dấu để bán lại cho người khác và phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,49 gam (không phẩy bốn chín). Mục đích của các bị cáo mua, bán ma túy để kiếm lời nên bị cáo Phâm Xuân T6 và Hồ Sỹ H phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Lam S phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được hành vi mua bán phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, được quy định trong Bộ luật hình sự, nhưng do hám lợi nên xem thường pháp luật; Do đó, các bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên; Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Xuân T, Hồ Sỹ H và Nguyễn Lam S là nguy hiểm cho xã hội. Đối với bị cáo T, H thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Đối với bị cáo Nguyễn Lam S là trường hợp nghiêm trọng. Mặt khác, ma túy nói chung và các chất ma túy ở thể rắn như Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc mua bán, sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt các bị cáo những mức án thật nghiêm khắc tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và để phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về ma túy.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự.

  • - Về tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  • + Bị cáo Phạm Xuân T trong quá trình điều tra ban đầu nhận tội sau đó thay đổi lời khai không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy với bị cáo Hồ Sỹ H. Tại phiên tòa ban đầu bị cáo T cũng không thừa nhận nhưng sau đó bị cáo T được xem lại vi deo hình ảnh lấy lời khai của cán bộ điều tra với bị cáo thì mới nhận tội như bản cáo trạng của VKS truy tố là đúng, không oan sai. Do đó bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Điều 51 BLHS. Bị cáo Hồ Sỹ H và Nguyễn Lam S phạm tội trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • + Đối với bị cáo T có bố đẻ Phạm Xuân D và bị cáo Hồ Sỹ H có bố đẻ là Hồ Sỹ T2 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Trong vụ án bị cáo Phạm Xuân T có số lượng ma túy mua bán nhiều nhất, nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Hồ Sỹ H. Xét thấy bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xử mức thấp hơn mức đề nghị của VKS là hợp lý. Đối vớ bị cáo H và bị cáo S mức đề nghị của VKS xử phạt là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền cho các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Ma tuý là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 (Một) Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, số imei: 35945649291272 thu giữ của Hồ Sỹ H; 01 (Một) Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen, số imei: 35396510119250 thu giữ của Phạm Xuân T; 01 (Một) Chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy A15 màu xanh tím than, số imeil: 357301902537621, số imei2: 357371952537620 thu giữ của Nguyễn Lam S các tài sản nêu trên do dùng vào việc phạm tội nên tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.
  • Trả lại cho chủ sở hữu chị Võ Thị H3 01 (Một) Chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPERO Classic màu đỏ, số máy: JYX60V1600W412528, số khung: RPEY4ENPENA412528 thu giữ của Nguyễn Lam S.
  • Truy thu số tiền 6.000.000 đồng do bị cáo Phạm Xuân T bán ma túy cho Hồ Sỹ H mà có.
  • Truy thu số tiền 550.000 đồng do bị cáo H bán ma túy cho Nguyễn Lam S mà có.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về hình phạt:
    • - Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    • + Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân T: 08 (T7) năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 16 tháng 7 năm 2025.
    • + Xử phạt: Bị cáo Hồ Sỹ H: 07 (Bảy) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 15 tháng 7 năm 2025.
    • + Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo T, H.
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    • + Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lam S: 03 (Ba) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 15 tháng 7 năm 2025.
    • + Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo S.
  2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) Chiếc phong bì thư bưu điện được niêm phong đúng quy định bên trong đựng: 02 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,18 gam, gói giấy màu trắng, gói nilong màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Nguyễn Lam S; 01 (Một) Chiếc phong bì thư bưu điện được niêm phong đúng quy định bên trong đựng: vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu thu giữ của Phạm Xuân T; 01 (Một) Chiếc phong bì thư bưu điện được niêm phong đúng quy định bên trong đựng: 40 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 3,95 gam, gói nilong màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Hồ Sỹ H; 01 (Một) Chiếc phong bì thư bưu điện được niêm phong đúng quy định bên trong đựng: gói nilong màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Nguyễn Lam S.
    • Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, số imei: 35945649291272, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao “0974890393”, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong thu giữ của Hồ Sỹ H; 01 (Một) Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen, số imei: 35396510119250, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao “0377524619”, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong thu giữ của Phạm Xuân T; 01 (Một) Chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy A15 màu xanh tím than, số imeil: 357301902537621, số imei2: 357371952537620, bên trong gắn số thuê bao “0386575401”, điện thoại đã qua sử dụng, tình trạng mặt kính màn hình bị nứt vỡ, không xác định được hình thù, không kiểm tra chất lượng bên trong thu giữ của Nguyễn Lam S. (Đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N và Phòng THADS khu vực 4 ngày 05/12/2025).
    • Trả lại 01 (Một) Chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPERO Classic màu đỏ, số máy: JYX60V1600W412528, số khung: RPEY4ENPENA412528 cho chủ sở hữu chị Võ Thị H3.
    • Truy thu số tiền 6.000.000 đồng do bị cáo Phạm Xuân T bán ma túy cho Hồ Sỹ H mà có.
    • Truy thu số tiền 550.000 đồng do bị cáo H bán ma túy cho Nguyễn Lam S mà có.
  3. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc Phạm Xuân T, Hồ Sỹ H và Nguyễn Lam S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333, 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
  • - Bị cáo;
  • - VKSND khu vực 4;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Phòng THADS khu vực 4;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Diên Tuấn

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/HS - ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 83/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Xuân T và đồng phạm phạm vào tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger