TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 83/2025/HS-ST Ngày 22 tháng 12 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Bùi Thanh Bình
Ông Phùng Đình Bàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Kiều Minh Thuận - Kiểm sát viên Trung cấp, bà Chu Thị Việt Hà - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 23/10/1989; nơi sinh: Xã T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường V, tỉnh Phú Thọ; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố C, phường V1, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị S, sinh năm 1961; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Bản án số 24/2010/HSST ngày 16/4/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 08 tháng, về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tháng 6/2010, chấp hành xong án phí (đã được xóa án tích).
+ Bản án số 04/2011/HSST ngày 03/3/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 09 tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tổng hợp với 01 năm 03 tháng tù của bản án số 24/2010/HSST ngày 16/4/2010 là 24 tháng tù. Bị áp dụng tình tiết tái phạm. Ngày 28/5/2012, chấp hành xong hình phạt tù. Tháng 5/2011, đã chấp hành xong án phí và truy thu.
+ Bản án số 19/2014/HSST ngày 29/4/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 08 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự (tình tiết định khung là Tái phạm nguy hiểm). Ngày 29/8/2019, chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 18/6/2014, chấp hành xong án phí, phạt và truy thu.
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 28/5/2013 của Công an phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, phạt 750.000đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 28/5/2013, đã chấp hành nộp phạt (đã được xoá tiền sự).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2024 cho đến nay (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo H: Bà Nguyễn Thị Kim Q, sinh năm 1982 - Luật sư Đoàn Luật sư tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ nơi làm việc: Văn phòng Luật sư Văn Lang - Đoàn Luật sư tỉnh Phú Thọ (có mặt).
2. Nguyễn Tùng L, sinh ngày 29/3/1998; nơi sinh: Phường V1, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường V1, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1969 và bà Lưu Thị H1, sinh năm 1974; vợ là Dương Thị C, sinh năm 2000 và 02 con (lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 22/5/2025 cho đến nay (có mặt).
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Viết H2, sinh năm 1997 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn A, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Phú Thọ.
2. Anh Nguyễn Xuân H3, sinh năm 1996 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 15 phút ngày 11/12/2024, tổ công tác Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Công an tỉnh Phú Thọ) kiểm tra dãy nhà trọ do bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T1, tỉnh Phú Thọ) làm chủ. Quá trình kiểm tra phát hiện tại phòng trọ số 09 do Nguyễn Viết H2 thuê trọ có 03 đối tượng có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy gồm Nguyễn Viết H2, Tạ Đức D và Nguyễn Thị Hồng T.
Quá trình kiểm tra phát hiện, thu giữ:
+ Thu giữ trong bồn cầu nhà vệ sinh trong phòng trọ của H2 01 viên nén màu xanh và 01 túi nilon, loại túi zip có viền màu xanh. Tiến hành thu giữ viên nén này rồi đút vào túi nilon nêu trên và niêm phong vào một phong bì thư, ký hiệu A1;
+ Thu trên nền nhà 01 cóng bằng thủy tinh, đầu cóng còn bám dính chất màu đen. Tiến hành niêm phong vào một phong bì thư, ký hiệu A2;
+ Thu giữ tại chậu rửa bát trên bếp nấu ăn 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng màu vàng in chữ LOUIS VUITTON, 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đồng được gắn với một đoạn ống hút bằng nhựa và 01 vỏ chai nước Sting, có nắp chai màu xanh được đục lỗ và gắn 02 ống hút bằng nhựa. Tiến hành niêm phong trong thùng catton, ký hiệu A11;
+ Thu giữ của Tạ Đức D 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA gắn biển kiểm soát 88K1-508.61.
Thu giữ tại bãi đất phía sau phòng trọ này gồm:
+ 01 túi nilon, loại túi zip có viền màu đỏ, bên trong chứa 02 cục tinh thể màu trắng, dạng đá. Tiến hành niêm phong vào một phong bì thư, ký hiệu A3;
+ 05 túi nilon màu tím, loại túi zip; 50 túi nilon, loại túi zip có viền màu đỏ, bên trong không chứa đựng đồ vật gì;
+ 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đều đã qua sử dụng của Nguyễn Viết H2, trong đó một chiếc vỏ màu vàng và một chiếc vỏ màu hồng. Tiến hành niêm phong vào các phong bì thư, ký hiệu D1, D2.
Ngày 11/12/2024, Cơ quan điều tra đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Viết H2 tại tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn Đ, xã T1, tỉnh Phú Thọ). Kết quả:
Thu giữ bên dưới đệm phía đuôi giường 01 túi nilon loại túi zip có viền màu xanh. Bên trong túi nilon này có 02 cục màu xám. Tiến hành niêm phong vào phong bì thư, ký hiệu A4;
Thu giữ tại gầm giường gồm:
+ 01 viên nén màu hồng. Tiến hành bọc, gói viên nén trên vào giấy vệ sinh niêm phong vào một phong bì thư ký hiệu A5;
+ 01 ống thủy tinh, bên trong còn bám dính chất bột màu trắng. Tiến hành niêm phong vào phong bì thư, ký hiệu A6.
Thu giữ trên nóc tủ quần áo gồm:
+ 02 túi nilon loại túi zip có viền màu đỏ. Bên trong túi nilon có chứa 05 viên nén màu xám và 01 túi nilon chứa cục, tinh thể dạng đá màu trắng. Tiến hành niêm phong vào phong bì thư, ký hiệu A7;
+ 01 túi nilon loại túi zip có viền màu đỏ. Bên trong có chứa chất bột màu xám cùng 01 túi nilon bên trong đựng chất bột màu xám. Tiến hành niêm phong vào phong bì thư, ký hiệu A8;
Thu giữ trong một hộp giấy dưới đáy tủ có 01 túi nilon, loại túi zip có viền màu xanh. Bên trong túi nilon này có đựng các tinh thể dạng đá màu trắng. Tiến hành niêm phong vào phong bì thư, ký hiệu A9;
Thu giữ trong một túi màu đen số tiền 1.720.000đồng. Tiến hành niêm phong vào phong bì thư, ký hiệu A10;
Thu giữ 02 cân tiểu ly;
Thu giữ trên giường 03 điện thoại di động gồm:
+ 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đều đã cũ, đã qua sử dụng của Tạ Đức D, trong đó một chiếc vỏ màu xám và một chiếc vỏ màu xanh. Tiến hành niêm phong vào các phong bì thư, ký hiệu D3 và D4;
+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xanh, đã cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Hồng T. Tiến hành niêm phong vào phong bì thư, ký hiệu D5;
Thu giữ trong tủ quần áo 01 khối hình hộp có chữ nước ngoài, nghi là pháo hoa do Trung Quốc sản xuất. Tiến hành niêm phong vào một thùng bìa catton, ký hiệu A15;
Thu giữ tại nền nhà 01 loa nghe nhạc màu đen cùng 01 bộ đèn Led đã cũ, đã qua sử dụng.
Căn cứ tài liệu thu thập được và lời khai của Nguyễn Viết H2 về việc mua ma tuý của Nguyễn Mạnh H. Quá trình điều tra, xác minh ngày 12/12/2024, Cơ quan điều tra đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Nguyễn Mạnh H. Kết quả thu được:
Thu tại túi quần phía trước bên trái của Nguyễn Mạnh H 01 túi nilon, loại túi zip có viền màu đỏ, bên trong có chứa các tinh thể dạng đá. Tiến hành niêm phong vào phong bì thư, ký hiệu A20;
Thu tại túi quần sau bên phải của Nguyễn Mạnh H số tiền 860.000đồng. Tiến hành niêm phong vào phong bì thư, ký hiệu A21;
Thu tại sàn nhà trong phòng ngủ của H 01 hộp nhựa có nắp màu xanh, bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng. Tiến hành niêm phong hộp nhựa trên ký hiệu A22;
Thu trong thùng rác để trong phòng ngủ có:
+ 01 túi nilon, loại túi zip có viền màu đỏ. Bên trong chứa 15 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh;
+ 01 túi nilon loại túi zip có viền màu đỏ, bên trong có 35 viên nén màu hồng;
+ 01 túi nilon loại túi zip có viền màu đỏ, bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng.
Tiến hành niêm phong các túi nilon có đặc điểm nêu trên vào cùng một phong bì thư, ký hiệu A23;
Dưới nền gạch 01 cân tiểu ly màu đen;
Dưới gầm tủ bếp 01 hộp nhựa có nắp màu xanh, bên trong đựng:
+ 02 ống hút màu đỏ và màu cam, một đầu được cắt nhọn;
+ 02 túi nilon, loại túi zip có viền màu xanh, bên trong đều đựng các tinh thể dạng đá màu trắng;
+ 01 túi nilon màu trắng, loại túi zip có viền màu màu đỏ, bên trong đựng 09 viên nén màu xám;
+ 01 túi nilon, loại túi zip có viền màu màu đỏ, bên trong đựng các tinh thể màu hồng và 04 viên nén màu hồng;
+ 01 túi nilon màu trắng có khóa bấm, có viền màu màu đỏ, bên trong có chứa chất bột màu vàng;
+ 01 túi nilon màu trắng, loại túi zip có viền màu màu đỏ, bên trong đựng 02 túi nilon loại túi zip có viền màu xanh. Bên trong hai túi nilon này đều chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng;
+ 02 túi nilon màu trắng, loại túi zip có viền màu đỏ. Bên trong hai túi nilon này đều chứa các tinh thể dạng đá màu trắng.
Tiến hành niêm phong hộp nhựa màu xanh đựng các túi nilon có đặc điểm nêu trên, ký hiệu A24;
Thu giữ 04 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, đều đã cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Mạnh H. Trong đó có 01 chiếc vỏ màu tím, 01 chiếc vỏ màu trắng và 02 chiếc vỏ màu bạc. Tiến hành niêm phong vào các phong bì thư, ký hiệu D6, D7, D8 và D9;
Thu trong phòng ngủ của Nguyễn Mạnh H 100 túi nilon màu trắng, loại túi zip có viền màu đỏ.
Quá trình điều tra đã làm rõ hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Trong quá trình thi hành án phạt tù tại trại giam Vĩnh Quang Bộ Công an, Nguyễn Mạnh H có quen một nam giới tên T2 (thường gọi là T2 Què). Sau khi chấp hành xong án phạt tù, trong một lần đi chơi H gặp lại T2, được T2 cho biết có ma túy bán. H cho T2 số điện thoại 0967007910 của H để T2 liên lạc nhưng H không có số điện thoại của T2. Đến khoảng giữa tháng 11/2024, T2 dùng số điện thoại lạ liên hệ với H để chào bán ma túy. H đồng ý mua 10.000.000đồng tiền ma túy đá, ma túy ngựa. T2 hẹn H đến khu vực chợ T thuộc xã M, huyện S, thành phố Hà Nội (nay là xã N, thành phố Hà Nội) để trao đổi mua bán ma túy. Khoảng đầu tháng 12/2024, Nguyễn Mạnh H đã bán cho Nguyễn Viết H2 2.200.000đồng tiền ma túy đá, ma túy ngựa từ số ma túy H mua được của T Qùe. H2 trả tiền mặt cho H. Quá trình điều tra, cả H2 và H không nhớ được thời gian cụ thể, số lượng ma túy mà H đã bán cho H2. Đến buổi trưa ngày 11/12/2024, Nguyễn Viết H2 tiếp tục hỏi mua của H 3.000.000đồng tiền ma túy đá. H đồng ý bán và yêu cầu H2 chuyển tiền vào số tài khoản 0388670097, tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q3 của Nguyễn Tùng L là người thường đến nhà trọ của H để chơi và ở lại cùng với H. Sau đó, H sử dụng tài khoản Facebook của H là “H” gọi đến tài khoản Facebook của Nguyễn Tùng L là “Tùng L” để hỏi xem có người mua ma túy chuyển tiền đến chưa, được L xác nhận việc có người mua ma túy chuyển tiền đến thì H yêu cầu L chuyển lại số tiền trên vào tài khoản ngân hàng của H. Sau khi nhận được tiền, H hẹn H2 đến nhà trọ của H để trao đổi mua bán ma túy. Tại đây, H đưa cho H2 một phong bì giấy, bên trong đựng túi nilon chứa ma túy đá cho H2. Sau khi H2 mua được ma túy, đã đem về phòng trọ thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện T, Vĩnh Phúc (nay là thôn Đ, xã T1, tỉnh Phú Thọ) cất giấu và tìm cơ hội bán kiếm lời. Ngày 11/12/2025, tại phòng trọ của H2 thuộc xã T1, tỉnh Phú Thọ, H2 cùng Tạ Đức D có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, sau đó bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện và bắt giữ. Nguyễn Viết H2 khai nhận số ma túy đá, ma túy ngựa bị thu giữ là do H2 mua của Nguyễn Mạnh H.
Theo lời khai của H, chiều tối ngày 11/12/2024, T2 sử dụng số điện thoại 0778380546 gọi cho H để tiếp tục chào bán ma túy. Do đã bán hết ma túy nên H đồng ý mua 38.000.000đồng tiền ma túy đá, ma túy kẹo và ma túy ke. T2 tiếp tục hẹn H đến khu vực nêu trên để trao đổi mua bán ma túy. Đến đêm ngày 11/12/2024, H một mình đi taxi đến khu vực như đã hẹn với T2. Tuy nhiên, trong cả hai lần, T2 không trực tiếp giao dịch với H mà cho người khác mang ma túy ra rồi đặt ma túy ở một vị trí khác để H đến lấy, còn người này sẽ cầm tiền mặt H đưa cho rồi mang về cho T2. Sau khi mua được ma túy, H đem về cất giấu, chia nhỏ để tìm cơ hội bán kiếm lời. Đến buổi chiều ngày 12/12/2024, khi H đang ở phòng trọ thì cơ quan công an đến triệu tập và thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với H. Quá trình khám xét, cơ quan công an đã thu giữ được ma túy và các đồ vật, tài sản liên quan khác như đã nêu ở trên.
Tại Kết luận giám định số 3504/KLGĐ, ngày 16/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Công an tỉnh Phú Thọ), kết luận:
Không tìm thấy chất ma túy thường gặp trong 01 viên nén màu xanh của mẫu ký hiệu Al gửi giám định. Khối lượng mẫu ký hiệu Al gửi giám định 0,1079gam (không phẩy một không bảy chín gam, không kể bao bì).
Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong cóng thúy tinh, có một đầu hình cầu bên trong bám dính chất màu nâu của mẫu ký hiệu A2. Không xác định được khối lượng của chất màu nâu do lượng bám dính ít.
Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2806gam (không phảy hai tám không sáu gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.
Cục màu xám có trong mẫu ký hiệu A4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3301g (không phẩy ba ba không một gam, không kể bao bì) loại MDMA;
01 viên nén màu hồng của mẫu ký hiệu A5 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1054gam (không phảy một không năm bốn gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.
Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong ống thủy tinh bám dính tinh thể màu trắng của mẫu ký hiệu A6. Không xác định được khối lượng của tinh thể màu trắng do luợng bám dính ít.
05 viên nén màu xám có trong mẫu ký hiệu A7 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,1388gam (hai phẩy một ba tám tám gam, không kể bao bì) loại MDMA.
Tinh thể dạng dá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A7 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3714gam (không phẩy ba bảy một bốn gam, không kể bao bì) loại Ketamine;
0,1116gam chất bột màu xám của mẫu ký hiệu A8 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1116gam (không phẩy một một một sáu gam, không kể bao bì) loại MDMA.
Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu A9 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9358gam (không phẩy chín ba năm tám gam, không kể bao bì) loại Ketamine.
Tìm thấy chất ma túy Ketamine trong 01 chiếc đĩa sứ; 01 thẻ nhựa; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đồng gắn vào một đoạn ống hút nhựa của mẫu ký hiệu A11. Không xác định được khối lượng chất bám dính do mẫu ở dạng vết.
Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong 01 chai nhựa có nắp, phía trên có gắn 02 ống hút nhựa của mẫu ký hiệu A11. Không xác định được khối lượng chất bám dính do mẫu ở dạng vết.”
Tại Kết luận giám định số 3506/KLGĐ, ngày 16/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Công an tỉnh Phú Thọ), kết luận:
Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu A20 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 13,6817gam (mười ba phẩy sáu tám một bảy gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.
Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu A22 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,0052gam (hai phẩy không không năm hai gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.
50 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh có trong mẫu ký hiệu A23 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 4,9751gam (bốn phẩy chín bảy năm một gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.
Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A23 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,6324gam (hai phẩy sáu ba hai bốn gam, không kể bao bì) loại Ketamine.
Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A24 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 20,2535gam (hai mươi phẩy hai năm ba năm gam, không kể bao bì) loại Ketamine.
Chất bột màu trắng có trong mẫu ký hiệu A24 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5624g (không phẩy năm sáu hai bốn gam, không kể bao bì) loại Ketamine.
Tinh thể màu hồng lẫn 04 mảnh viên nén màu hồng có trong mẫu ký hiệu A24 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,7012gam (không phẩy bảy không một hai gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.
Chất bột màu vàng có trong mẫu ký hiệu A24 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,7635gam (không phẩy bảy sáu ba năm gam, không kể bao bì) loại MDMA.
09 viên nén màu xám có trong mẫu ký hiệu A24 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,5624gam (ba phẩy năm sáu hai bốn gam, không kể bao bì) loại MDMA.
Tìm thấy chất ma túy Ketamine bám dính trên chiếc ống hút nhựa màu vàng một đầu được vót nhọn có trong mẫu ký hiệu A24 gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất bám dính do lượng mẫu ít.
Tìm thấy chất ma túy Ketamine và Methamphetamine bám dính trên chiếc ống hút nhựa màu đỏ một đầu được vót nhọn có trong mẫu ký hiệu A24 gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất bám dính do lượng mẫu ít.”
Ngày 20/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định trưng cầu giám định số 1633/QĐ-CSMT, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định Kỹ thuật số điện tử đối với những chiếc điện thoại di động thu giữ được của Nguyễn Viết H2, Tạ Đức D, Nguyễn Thị Hồng T và Nguyễn Mạnh H, được niêm phong ký hiệu từ D1, D2, D3, D4, D5, D6, D7, D8 và D9. Kết quả giám định xác định được: Có các cuộc gọi zalo của H2 với D có liên quan đến vụ án; không phát hiện nội dung gì trong chiếc điện thoại của Nguyễn Thị Hồng T có liên quan đến hành vi phạm tội của D và H2; có các tin nhắn, cuộc gọi của H2 với H, các cuộc gọi của H với Tùng L có liên quan đến hành vi phạm tội của D và H2.
Ngày 21/05/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định trưng cầu giám định số 2999/QĐ-CSMT, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định Kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động thu giữ được của Nguyễn Tùng L, được niêm phong ký hiệu L1. Kết quả giám định xác định: không phát hiện nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội của L trong vụ án.
Ngày 17/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Công an tỉnh Phú Thọ) đã yêu cầu Ngân hàng Thương mại cổ phần Q3 chi nhánh V1 cung cấp thông tin, sao kê tài khoản ngân hàng của Nguyễn Viết H2; Yêu cầu Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 chi nhánh V1, Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 chi nhánh V1 sao kê tài khoản ngân hàng của Nguyễn Mạnh H. Ngày 10/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Công an tỉnh Phú Thọ) đã yêu cầu Ngân hàng Thương mại cổ phần Q3 chi nhánh V1 cung cấp thông tin, sao kê tài khoản ngân hàng của Nguyễn Tùng L. Kết quả thể hiện giao dịch ngày 11/12/2024, Nguyễn Viết H2 đã chuyển vào tài khoản của Nguyễn Tùng L 02 lần với tổng số tiền 4.500.000đồng. Sau đó, L chuyển số tiền trên vào tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 của Nguyễn Mạnh H.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã cho Nguyễn Tùng L, Nguyễn Mạnh H đọc tài liệu sao kê tài khoản ngân hàng và giải thích các giao dịch chuyển khoản nghi vấn liên quan đến hành vi phạm tội. Nguyễn Tùng L đã chỉ ra giao dịch chuyển tiền ngày 11/12/2024, do Nguyễn Viết H2 chuyển cho L. Sau đó, L chuyển lại cho H như đã nêu trên, là tiền H2 mua ma túy của H. Vì H nói cho L biết đây là tiền khách mua ma túy chuyển, còn các giao dịch khác giữa L và H thì L không biết là tiền gì chỉ chuyển khi có yêu cầu của H.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra đã yêu cầu ngân hàng cung cấp thông tin khách hàng nghi vấn liên quan đến hành vi phạm tội của H. Qua làm việc với các đối tượng xác định được:
Phạm Ngọc L2, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Phường V, tỉnh Phú Thọ) khai nhận việc có mua ma tuý và chuyển khoản cho H (nhưng không nhớ mua ma túy ngày nào, bao nhiêu tiền). Ngoài ra, giữa H và L2 cũng có nhiều giao dịch chuyển tiền vay mượn của nhau. H xác định giữa Phạm Ngọc L2 và H có quan hệ quen biết xã hội và chơi với nhau, nhưng không có việc H mua bán ma tuý với L2, các giao dịch giữa H và Lê đều là giao dịch vay mượn tiền với nhau;
Nguyễn Xuân H3, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T3, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ) khai nhận việc có mua ma tuý và chuyển khoản cho H. Ngoài ra, H3 cũng có chuyển tiền trả nơ cho H. H xác định, H3 khai báo như nêu trên là đúng vì H và H3 cũng có quen biết xã hội với nhau và H3 cũng mua ma tuý của H, sau đó chuyển tiền mua ma tuý vào tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 của H. H xác định các giao dịch chuyển tiền qua tài liệu sao kê ngân hàng mà Cơ quan Công an cung cấp là các giao dịch chuyển tiền mua ma tuý và trả nợ vay mượn tiền giữa H và H3. Tuy nhiên, H không xác định được giao dịch nào là giao dịch chuyển tiền mua ma tuý và giao dịch nào là trả nợ cho nhau. H không nhớ là đã bán cho H3 những loại ma tuý gì và số lượng là bao nhiêu.
Ngày 18/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Công an tỉnh Phú Thọ) yêu cầu Cục B2, Tập đoàn C3 cung cấp thông tin chủ thuê bao, lịch sử liên lạc các số điện thoại mà Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Viết H2 sử dụng. Kết quả ngày 11/12/2024 thể hiện 04 cuộc gọi từ số điện thoại 0926981333 của Nguyễn Viết H2 đến số điện thoại 0967007910 của Nguyễn Mạnh H sử dụng, phù hợp với lời khai của Nguyễn Viết H2, gọi điện để trao đổi mua bán ma tuý; thể hiện các cuộc gọi từ số điện thoại 0778.380.546 và 0856188118 đến số điện thoại 0967007910 của H, phù hợp với lời khai của H về việc T2 gọi điện cho H để thỏa thuận việc mua bán ma túy.
Ngày 13/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ đề nghị Công ty TNHH D1 cung cấp thông tin chủ thuê bao, lịch sử liên lạc của số điện thoại 0778380546; Yêu cầu trung tâm kinh doanh V cung cấp thông tin chủ thuê bao, lịch sử liên lạc của số điện thoại 0856188118. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh làm việc với chủ thuê bao số điện thoại 0778380546 là ông Phạm Ngọc H4, sinh năm 1968; nơi cư trú: Phường E, quận F, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, thành phố Hồ Chí Minh). Kết quả, ông Phạm Ngọc H4 không sử dụng số thuê bao trên. Ông H4 không biết T2 Qùe là ai và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của Nguyễn Mạnh H; Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng đã tiến hành xác minh, làm việc với chủ thuê bao 0856188118 là anh Hoàng Thế Q2, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xã L, huyện H, tỉnh Phú Thọ (nay là xã Đ, tỉnh Phú Thọ). Kết quả, anh Hoàng Thế Q2 không sử dụng số thuê bao trên. Anh Q2 không biết T2 Qùe là ai và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của Nguyễn Mạnh H.
Người làm chứng anh Nguyễn Viết H2 và anh Nguyễn Xuân H3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra đã khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSPT-P1 ngày 12/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố Nguyễn Mạnh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Tùng L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Tùng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H từ 16 năm đến 17 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12 tháng 12 năm 2024; áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Tùng L từ 02 năm 06 tháng đến 3 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 22 tháng 5 năm 2025; về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản, thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; về xử lý vật chứng: Đối với mẫu A20 và A22 thu của Nguyễn Mạnh H là các tinh thể dạng đá màu trắng, kết quả giám định là ma túy Methamphetamine được hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 3506/KLGĐ, đề nghị tịch thu, tiêu hủy theo quy định; đối với mẫu A23 thu của Nguyễn Mạnh H là 50 viên nén màu hồng cùng 01 viên nén màu xanh, kết quả giám định là ma túy Methamphetamine và tinh thể dạng đá màu trắng, kết quả giám định là ma túy Ketamine đều được hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 3504/KLGĐ, đề nghị tịch thu, tiêu hủy theo quy định; đối với mẫu A24 thu của Nguyễn Mạnh H gồm: Tinh thể dạng đá màu trắng, chất bột màu trắng, kết quả giám định là ma túy Ketamine; tinh thể màu hồng lẫn 04 mảnh viên nén màu hồng, kết quả giám định là ma túy Methamphetamine; chất bột màu vàng và 09 (chín) viên nén màu xám, kết quả giám định là ma túy MDMA; ống hút nhựa màu vàng, kết quả giám định bám dính ma túy Ketamine; ống hút nhựa màu đỏ, kết quả giám định bám dính ma túy Ketamine và Methamphetamine, đều được hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 3504/KLGĐ, đề nghị tịch thu, tiêu hủy; đối với 100 túi nilon màu trắng, loại túi zip có viền màu đỏ thu giữ của Nguyễn Mạnh H, đề nghị tịch thu, tiêu hủy theo quy định; đối với mẫu A21 là số tiền 860.000đồng thu của Nguyễn Mạnh H là tiền H lao động mà có, đề nghị trả lại cho H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; đối với 01 cân tiểu ly thu giữ của Nguyễn Mạnh H là công cụ để Hà cân, chia ma túy bán kiếm lời, không có giá trịn sử dụng, đề nghị tịch thu, tiêu hủy theo quy định; đối với 04 chiếc điện thoại di động Iphone, trong đó có một chiếc vỏ màu tím, một chiếc vỏ màu trắng và 02 chiếc vỏ màu xám, thu giữ của Nguyễn Mạnh H và 01 điện thoại di động Iphone thu giữ của Nguyễn Tùng L là công cụ thực hiện tội phạm, đề nghị tịch thu, phát mại sung vào ngân sách nhà nước.
Bà Nguyễn Thị Kim Q là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh H cho rằng Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, thành khẩn khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.
Bị cáo Nguyễn Mạnh H không bào chữa bổ sung, nhất trí như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo bà Nguyễn Thị Kim Q. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.
Bị cáo Nguyễn Tùng L không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vụ án này do Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, quyết định việc truy tố, sau đó phân công cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc xét xử. Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định tại Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền truy tố.
[2]. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Tùng L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Tùng L tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ chứng cứ khách quan để kết luận:
Nguyễn Mạnh H là người có nhân thân xấu. H nhận thức được việc Mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vì ham lợi nhuận, H đã mua ma túy của người chưa xác định được nhân thân lai lịch để bán kiếm lời. Đầu tháng 12/2024, H bán cho Nguyễn Viết H2 2.200.000đồng tiền ma túy đá. Đến ngày 11/12/2024, H tiếp tục bán cho H2 3.000.000đồng tiền ma túy đá. Ngoài ra, H còn nhiều lần bán ma túy cho Nguyễn Xuân H3, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Số ma túy Nguyễn Mạnh H phải chịu trách nhiệm, cụ thể như sau: Methamphetamine = 21,3002gam; MDMA = 4,3259gam; Ketamine = 23,1513gam, là số ma túy thu giữ khi khám xét nơi ở của H, mục đích để bán kiếm lời và Nguyễn Mạnh H còn phải chịu trách nhiệm về số ma túy Methamphetamine thu của Nguyễn Viết H2, do H2 mua của H là 0,386gam.
Căn cứ khoản 3 Điều 5 nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Thủ tướng chính phủ Quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tính được phần trăm các chất ma túy nêu trên như sau:
+ Methamphetamine = ((21,3632gam + 0,386gam)/30gam) x 100% = 72,49%
+ MDMA = (4,3259gam/30gam) x 100% = 14,42%
+ Ketamine = (23,4483gam /100gam) x 100% = 23,44%
=> Tổng phần trăm các chất ma túy nêu trên là 110,35% > 100%
Tính theo khối lượng các chất ma túy quy định tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự:
+ Methamphetamine = ((21,3632gam + 0,386gam)/100gam)x 100% = 21,74%
+ MDMA = (4,3259gam/100gam) x 100% = 4,32%
+ Ketamine = (23,4483gam /300gam) x 100% = 7,81%
=> Tổng phần trăm các chất ma túy nêu trên là 33,87% < 100%
Như vậy với số ma túy nêu trên, Nguyễn Mạnh H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Nguyễn Mạnh H giữ vai trò chính trong vụ án. Nguyễn Tùng L có vai trò đồng phạm giúp sức cho H trong việc nhận tiền mua ma túy của Nguyễn Viết H2 ngày 11/12/2024. Sau đó, L chuyển cho H. L nhận thức được hành vi đó là sai, vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tuy L và H có phát sinh nhiều giao dịch chuyển khoản khác nhưng Cơ quan điều tra đã làm rõ những giao dịch trên, L không biết đó là tiền gì, chỉ chuyển lại cho H khi H yêu cầu nên không có căn cứ xem xét xử lý đối với L đồng phạm với H trong các lần giao dịch trước ngày 11/12/2024.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Tùng L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 251 quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
h. Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này”.
Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý đang là tệ nạn xã hội có chiều hướng ngày càng gia tăng, từ tội phạm về ma tuý sẽ dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:
Đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H, ngoài lần bán ma túy cho Nguyễn Viết H2 vào ngày 11/12/2024 thì H còn bán ma túy cho H2 01 lần khác vào đầu tháng 12/2024 và nhiều lần bán ma túy cho Nguyễn Xuân H3, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ nên H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Nguyễn Tùng L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Tùng L thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo H, L được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Tùng L là người chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Nguyễn Mạnh H là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về các tội “Cưỡng đoạt tài sản”, “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, “Mua bán trái pháp chất ma túy” và đều bị kết án tù; đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải lên một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Tùng L không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo H, L, để phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với các bị cáo.
[5]. Đối với Nguyễn Viết H2 và Tạ Đức D: Cơ quan điều tra khởi tố đối với Nguyễn Viết H2 về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Tạ Đức D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 08/7/2025, Cơ quan điều tra Quyết định tách vụ án đối với hành vi của Nguyễn Mạnh H và Nguyễn Tùng L để tiếp tục điều tra đồng thời kết thúc điều tra, đề nghị truy tố đối với H2 và D về các tội danh như trên. Tại Bản án số 35/2025/HSST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ đã xét xử đối với Nguyễn Viết H2 và Tạ Đức D về các tội danh trên. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề nghị xử lý Nguyễn Viết H2 và Tạ Đức D ở vụ án này là đúng quy định của pháp luật.
[6]. Đối với người nam giới tên T2 (thường gọi là T2 Qùe), theo Nguyễn Mạnh H khai đã bán ma túy cho H ngày 11/12/2024 và một lần trước đó vào khoảng giữa tháng 11/2024, bản thân H không biết người này có tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Căn cứ lời khai của H, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an xã Mai Đình, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội (nay là xã Nội Bài, thành phố Hà Nội) và Trại giam Vĩnh Quang Bộ Công an nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Việc H và T2 thỏa thuận mua bán trái phép chất ma túy với nhau thì chỉ có H và T2 biết. Khi mua bán ma túy, H không được trực tiếp gặp mặt mà đưa tiền mặt cho một người khác rồi người đó chỉ cho H vị trí cất ma túy để đến lấy. Căn cứ lời khai của H, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã yêu cầu các nhà mạng viễn thông cung cấp thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0778.380.546 và 0856188118, để tiến hành xác minh, làm việc, tuy nhiên vẫn không xác định được người nam giới tên T2. Ngoài lời khai của H, không có tài liệu nào khác chứng minh về T2. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có đủ căn cứ để xử lý, mà sẽ tiếp tục điều tra xác minh, khi đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
[7]. Về xử lý vật chứng:
Đối với mẫu A20 và A22 thu của Nguyễn Mạnh H là các tinh thể dạng đá màu trắng, kết quả giám định là ma túy Methamphetamine được hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 3506/KLGĐ, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Đối với mẫu A23 thu của Nguyễn Mạnh H là 50 viên nén màu hồng cùng 01 viên nén màu xanh, kết quả giám định là ma túy Methamphetamine và tinh thể dạng đá màu trắng, kết quả giám định là ma túy Ketamine đều được hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 3504/KLGĐ, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Đối với mẫu A24 thu của Nguyễn Mạnh H gồm: Tinh thể dạng đá màu trắng, chất bột màu trắng, kết quả giám định là ma túy Ketamine; tinh thể màu hồng lẫn 04 mảnh viên nén màu hồng, kết quả giám định là ma túy Methamphetamine; chất bột màu vàng và 09 (chín) viên nén màu xám, kết quả giám định là ma túy MDMA; ống hút nhựa màu vàng, kết quả giám định bám dính ma túy Ketamine; ống hút nhựa màu đỏ, kết quả giám định bám dính ma túy Ketamine và Methamphetamine, đều được hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 3504/KLGĐ, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Đối với 100 túi nilon màu trắng, loại túi zip có viền màu đỏ thu giữ của Nguyễn Mạnh H, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Đối với mẫu A21 là số tiền 860.000đồng thu của Nguyễn Mạnh H là tiền H lao động mà có cần trả lại cho H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 cân tiểu ly thu giữ của Nguyễn Mạnh H là công cụ để Hà cân, chia ma túy bán kiếm lời, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Đối với 04 chiếc điện thoại di động Iphone, trong đó có một chiếc vỏ màu tím, một chiếc vỏ màu trắng và 02 chiếc vỏ màu xám, thu giữ của Nguyễn Mạnh H và 01 điện thoại di động Iphone thu giữ của Nguyễn Tùng L là công cụ thực hiện tội phạm cần tịch thu, phát mại sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với các đồ vật tài sản, vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Viết H2 và Tạ Đức D trong vụ án Mua bán, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đã được xử lý tại Bản án số 35/2025/HSST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ.
[8]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Tùng L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ đối với các bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Tùng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
2.1. Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Nguyễn Mạnh H 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/12/2024).
2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Nguyễn Tùng L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 22/5/2025).
3. Về vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
+ Tịch thu, tiêu hủy mẫu A20 và A22 thu của Nguyễn Mạnh H là các tỉnh thể dạng đá màu trắng, kết quả giám định là ma túy Methamphetamine được hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 3506/KLGĐ.
+ Tịch thu, tiêu hủy mẫu A23 thu của Nguyễn Mạnh H là 50 viên nén màu hồng cùng 01 viên nén màu xanh, kết quả giám định là ma túy Methamphetamine và tinh thể dạng đá màu trắng, kết quả giám định là ma túy Ketamine đều được hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 3504/KLGĐ.
+ Tịch thu, tiêu hủy mẫu A24 thu của Nguyễn Mạnh H gồm: Tinh thể dạng đá màu trắng, chất bột màu trắng, kết quả giám định là ma túy Ketamine; tinh thể màu hồng lẫn 04 mảnh viên nén màu hồng, kết quả giám định là ma túy Methamphetamine; chất bột màu vàng và 09 viên nén màu xám, kết quả giám định là ma túy MDMA; ống hút nhựa màu vàng, kết quả giám định bám dính ma túy Ketamine; ống hút nhựa màu đỏ, kết quả giám định bám dính ma túy Ketamine và Methamphetamine, đều được hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 3504/KLGĐ.
+ Tịch thu, tiêu hủy 100 túi nilon màu trắng, loại túi zip có viền màu đỏ thu giữ của Nguyễn Mạnh H.
+ Trả lại cho H số tiền 860.000đồng thu của Nguyễn Mạnh H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
+ Tịch thu, tiêu hủy 01 cân tiểu ly thu giữ của Nguyễn Mạnh H là công cụ để Hà cân, chia ma túy bán kiếm lời.
+ Tịch thu, phát mại sung vào ngân sách nhà nước 04 chiếc điện thoại di động Iphone, trong đó có một chiếc vỏ màu tím, một chiếc vỏ màu trắng và 02 chiếc vỏ màu xám, thu giữ của Nguyễn Mạnh H và 01 điện thoại di động Iphone thu giữ của Nguyễn Tùng L.
(đặc điểm vật chứng như biên bản về việc vật chứng, tài sản ngày 01/12/2025).
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Tùng L mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thanh Thảo |
Bản án số 83/2025/HS-ST ngày 22/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 83/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Tùng L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
