|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 83/2025/HNGĐ - ST Ngày 30 tháng 12 năm 2025. V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thuật; Ông Lê Văn Hoan.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phương, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Loan, Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội (Cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 198/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp: “Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXX- ST ngày 21 tháng 11 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2025/QĐST- HNGĐ ngày 09/12/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Mùi Thị H, sinh năm: 1990;
Địa chỉ: Xóm H, thôn H, xã C, thành phố Hà Nội.
( Chị H xin vắng mặt tại phiên tòa)
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1989;
Địa chỉ: Xóm H, thôn H, xã C, thành phố Hà Nội.
(Anh T vắng mặt tại phiên tòa )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn và Bản tự khai của đương sự ngày 03/10/2025 chị Mùi Thị H trình bày như sau: Tôi và anh Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, B, thành phố Hà Nội(Nay là xã C, thành phố Hà Nội) ngày 30/06/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau ngay và sống tại nhà anh T. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T thường xuyên uống rượu, chơi bời cờ bạc, tôi đã khuyên giải nhiều lần nhưng không được, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng về kinh tế ngày càng trầm trọng. Chúng tôi ly thân từ năm 2013 cho đến nay, khi ly thân vợ chồng không ai quan tâm đến ai, cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Tố U, sinh ngày: 11/04/2010 và cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày: 16/07/2012. Hiện nay hai con đang ở cùng với bố và bà nội, các cháu có nguyện vọng ở với bố, nếu Tòa án giao cho các con ở với bố thì chị H tự nguyện cấp dưỡng số tiền 2.000.000đ/tháng để anh T nuôi dưỡng hai con chung. Hiện tại anh T không có mặt, không thể hiện nguyện vọng nào về việc nuôi con chung, nên chị H đề nghị xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả 02 cháu đến trưởng thành không yêu cầu trợ cấp nuôi con chung.
Về tài sản riêng: Không có.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội đã tiến hành triệu tập và gửi thông báo thụ lý vụ án cho anh Nguyễn Văn T nhiều lần nhưng anh T không đến Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội làm việc và tham gia tố tụng giải quyết vụ án. Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội đến nhà và gặp bà Nguyễn Thị H1 là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T để xác minh, bà H1 cho biết: Anh Nguyễn Văn T là con trai của tôi chị H và anh T tự nguyện tìm hiểu và gia đình có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện B, thành phố Hà Nội nay là xã C, thành phố Hà Nội ngày 30/06/2009. Sau khi kết hôn chị H và anh T về chung sống với nhau ngay và sống tại nhà tôi. Sau đó thì vợ chồng chị H và anh T đi làm ăn ở Trung Quốc, sau đó tôi lại cho chị H đi Đài Loan làm ăn. Đến năm 2020 thì chị H về Việt Nam thì mỗi vợ chồng ở một nơi. Khi về nhà thì vợ chồng chị H không ở cùng nhau, tôi không thấy hai anh chị cãi nhau gì. Tôi chỉ nghe lại là vợ chồng mâu thuẫn từ khi làm ăn ở Đài Loan. Tòa án có gửi giấy triệu tập và thông báo thụ lý vụ án tôi có nhận và thông báo cho anh T nhưng anh T bận công việc nên không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án làm việc được. Anh T có bảo lần sau về anh sẽ đến Tòa án. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh T thì tôi trao đổi với chị H mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Chị H cố tình ly hôn tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị H và anh T có hai con chung là cháu Nguyễn Tố U, sinh ngày: 11/04/2010 và cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày: 16/07/2012. Hiện nay hai cháu đang ở với tôi và anh T. Tôi đề nghị Tòa án giao hai cháu cho anh T nuôi dưỡng vì hai cháu ở với tôi và anh T từ nhỏ. Việc cấp dưỡng là việc của chị H và anh T. Chị H và anh T không có tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung gì. Bà H1 sau khi đọc xong nội dung thì không ký vào văn bản vì bà cho rằng nếu bà ký thì sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc của hai con. Bà H1 ghi nhận nội dung xác minh là đúng, có sự chứng kiến của trưởng thôn và chính quyền địa phương.
Tòa án nhân dân khu vực 9, Hà Nội đã tiến hành xác minh chính quyền địa phương là UBND xã C về tình trạng hôn nhân của chị H và anh T. Đại diện chính quyền địa phương cho biết: Chị Mùi Thị H và anh Nguyễn Văn T là công dân xã C, thành phố Hà Nội. Chị H và anh T có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện B, thành phố Hà Nội nay là xã C, thành phố Hà Nội ngày 30/06/2009. Sau khi kết hôn chị H và anh T về chung sống với nhau ngay và sống tại thôn H, xã C, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống chị H và anh T có mâu thuẫn như thế nào thì chính quyền địa phương nắm được vì chị H và anh T không báo chính quyền địa phương biết. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh T thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị H và anh T có hai con chung là cháu Nguyễn Tố U, sinh ngày: 11/04/2010 và cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày: 16/07/2012. Hiện nay hai cháu đang ở với anh T và bà H1. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị H và anh T có tài sản riêng, tài sản chung hay nợ nần gì, chính quyền địa phương không nắm được.
Trong quá trình giải quyết vụ án do anh T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nhân dân khu vực 9, Hà Nội. Nên Tòa án nhân dân khu vực 9, Hà Nội đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo qui định của pháp luật tại: Nhà văn hóa thôn H, xã C, thành phố Hà Nội và tại trụ sở UBND xã C, tại trụ sở TAND khu vực 9, Hà Nội đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay: Chị Mùi Thị H có đơn xin vắng mặt. Anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Chủ toạ phiên toà công bố lời khai của chị Mùi Thị H và các tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án do chị H cung cấp và do Tòa án thu thập.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm như sau: Về việc tiến hành tố tụng của Tòa án nhân dân khu vực 9, Hà Nội. Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm Thẩm phán, Thư ký và Hội Đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc nguyên đơn: Chị Mùi Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa hôm nay ngay sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng theo qui định của pháp luật. Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh T theo qui định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Mùi Thị H. Cho chị Mùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Có 02 con chung. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Tố U, sinh ngày: 11/04/2010 và cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày: 16/07/2012 cho chị Mùi Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu U, cháu N tròn, đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T đối với hai con chung. Tài sản riêng, chung, công sức, công nợ chung: Chưa giải quyết. Về án phí: Buộc chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1]. Về tố tụng: Chị Mùi Thị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với Nguyễn Văn T có hộ khẩu trường trú tại: Thôn H, xã C, thành phố Hà Nội. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 28; Điểm a, Khoản 1, Điều 35, điểm b, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Mùi Thị H có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án nhân dân khu vực 9, Hà Nội triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để giải quyết ly hôn theo yêu cầu của chị H do đó Tòa án nhân dân khu vực 9, Hà Nội đã niêm yết các văn bản tố tụng anh T được nhận theo qui định của pháp luật nhưng đến nay anh T vẫn vắng mặt không có lý do, do đó căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H và anh T theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Mùi Thị H và anh Nguyễn Văn T là hôn nhân hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, B, thành phố Hà Nội( Nay là xã C, thành phố Hà Nội) ngày 30/06/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau ngay và sống tại nhà anh T. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T thường xuyên uống rượu, chơi bời cờ bạc, tôi đã khuyên giải nhiều lần nhưng không được, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng về kinh tế ngày càng trầm trọng. Chúng tôi ly thân từ năm 2013 cho đến nay, khi ly thân vợ chồng không ai quan tâm đến ai, cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng, đến nay hai bên không tìm ra biện pháp để cải thiện tình cảm vợ, chồng. Do vậy Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để khẳng định mâu thuẫn vợ, chồng giữa chị H và anh T trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ, chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung vợ, chồng giữa chị H và anh T không thể tiếp tục duy trì. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn anh T để giải phóng cho cả hai.
2.2. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị H và anh T có 02 con chung, cháu Nguyễn Tố U, sinh ngày: 11/04/2010 và cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày: 16/07/2012. Thời gian từ khi chị H và anh T ly thân thì cháu U và cháu N đều ở với anh T cùng bà nội là bà H1. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết anh T được biết và được nhận các giấy tờ tống đạt của Tòa án thông qua mẹ đẻ là bà H1 nhưng anh không chấp hành, không có lời khai, không thể hiện nguyện vọng ý chí của anh T về việc yêu cầu trực tiếp chăm sóc nuôi con chung. Do vậy chị H có quan điểm xin được nuôi cả 02 cháu đến trưởng thành không yêu cầu anh T trợ cấp nuôi con chung là phù hợp với thực tế. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị H. Giao cho chị Mùi Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tố U, sinh ngày: 11/04/2010 và cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày: 16/07/2012 cho đến khi cháu U, cháu N tròn, đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có quyết định thay đổi khác.
2.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu, nên HĐXX không xét.
2.4.Về tài sản riêng, tài sản chung, công sức chung, nợ chung: Theo chị H khai xác định không có. Tuy nhiên hiện nay anh T vắng mặt trong quá trình Tòa án tiến hành tố tụng giải quyết, xét xử vụ án. Do vậy hội đồng xét xử chưa giải quyết tài sản riêng, tài sản chung, công sức, công nợ chung. Giành quyền khởi kiện bằng vụ án khác giải quyết tài sản riêng, tài sản chung và công nợ chung sau ly hôn cho anh T sau này nếu có yêu cầu.
2.5. Về án phí: Chị Mùi Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Khoản 1, Điều 51; Khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Căn cứ Khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39; Khoản 4, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mùi Thị H đối với anh Nguyễn Văn T.
- Cho chị Mùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Con chung: Có 02 con chung. Giao cho chị Mùi Thị H được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tố U, sinh ngày: 11/04/2010 và cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày: 16/07/2012 cho đến khi cháu U, cháu N đủ 18 tuổi hoặc đến khi có Quyết định thay đổi khác.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm miễn việc trợ cấp nuôi con chung cho anh T đến khi chị H có đơn yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
Anh T được quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con
- Về tài sản riêng, tài sản chung, công sức chung, công nợ chung: Chị H xác định là không yêu cầu giải quyết. Giành quyền cho anh T khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.
- Án phí: Chị Mùi Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chị M đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai số: 0008791 ngày 23 tháng 09 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Nay khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí vào khoản tiền án phí ly hôn sơ thẩm chị H không tphair nộp nữa.
- Về quyền kháng cáo: Chị Mùi Thị H và anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi ành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lã Hùng Cường |
Bản án số 83/2025/HNGĐ - ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TP. HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 83/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
