Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - CAO BẰNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2025/HS-ST

Ngày: 29 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lục Thị Út.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Huy Hoàng.
  2. Bà Nông Thị Duyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại Nhà văn hóa xóm M, xã H, tỉnh Cao Bằng, Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 85/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Vi Kim T, sinh ngày 27/12/1979 tại phường T, tỉnh Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố A, phường N, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Như T1 (đã chết) và bà Hà Thị Q, sinh năm 1952; Vợ, con: Chưa có. Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án: 03 tiền án.

  • Ngày 24/11/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Ngày 23/4/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 13 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Ngày 26/12/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Tháng 4/1999, bị Công an phường H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”;
  • Tháng 5/1999, bị Công an phường H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản của công dân”;
  • Ngày 26/10/1999, bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”;
  • Ngày 18/9/2001, bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Ngày 24/8/2004, bị Tòa Phúc thẩm tại Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tùy” và 06 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép”, tổng hợp hình phạt 14 năm tù;
  • Ngày 17/5/2019, bị Công an phường H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
  • Ngày 25/7/2019, bị Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh C từ ngày 19/9/2025 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 10 phút ngày 19/9/2025, tại khu vực tổ H, phường T, tỉnh Cao Bằng tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh C chủ trì phối hợp với Công an phường T, tỉnh Cao Bằng phát hiện và bắt quả tang Vi Kim T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng (T khai nhận đây là H), đem cân có khối lượng 0,2168gam (Không phẩy hai một sáu tám gam) thu giữ trong lòng bàn tay phải của T.

Hồi 14 giờ 45 phút ngày 19/9/2025, Cơ quan Điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vi Kim T tại tổ dân phố A, phường N, tỉnh Cao Bằng. Quá trình khám xét không phát hiện đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 487/KL-KTHS ngày 26/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin).

Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ ngày 19/9/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Vi Kim T bắt xe ôm từ nhà tại tổ dân phố A, phường N, tỉnh Cao Bằng để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đến nơi, T một mình đi bộ đến khu vực cầu C thuộc phường T, tỉnh Cao Bằng thì gặp một người đàn ông không quen biết (không rõ nhân thân, lai lịch) dáng giống với người nghiện nên đã lại gần và hỏi mua Heroine với giá 200.000,₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 32/CT-VKSKV1 ngày 11/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng truy tố Vi Kim T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Vi Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, đề nghị HĐXX tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Số 487/KL-KTHS; Hoàn mẫu vụ Vi K, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau có 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh C và chữ ký của những người tham gia niêm phong; 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vỏ niêm phong ban đầu của Vi Kim T – Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau có 04 dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C và chữ ký của những người tham gia niêm phong.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Vi Kim T phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Vi Kim T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cao Bằng đã truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm được tái hòa nhập cộng đồng, sống có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, người tham gia tố tụng cung cấp; hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về chứng cứ, tài liệu, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các chứng cứ, tài liệu, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập và thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Vi Kim T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cao Bằng đã truy tố. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với các chứng cứ của vụ án như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 12 giờ 10 phút, ngày 19/9/2025 tại khu vực tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng, Vi Kim T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2168 gam (không phẩy hai một sáu tám gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Bản cáo trạng số 32/CT-VKSKV1 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cao Bằng đã truy tố, cũng như ý kiến luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện. Trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, cần có mức án thật nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

[4.1] Về nhân thân: Bị cáo đã nhiều lần bị tòa án xét xử về các tội danh khác nhau và từng bị xử phạt hành chính, là người nghiện ma túy nên nhân thân xấu.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố đẻ là ông Vi N Tồn có Giấy chứng nhận thương Binh loại A, thương tật hạng 4/4 nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo đã bị xử phạt tù rất nhiều lần, sau khi mãn hạn tù trở về địa phương, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, tu chí làm ăn lương thiện mà tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời để răn đe, phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm về ma túy như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thì mới tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Mức án và hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền, tịch thu tài sản...) đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 (Một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Số 487/KL-KTHS; Hoàn mẫu vụ Vi K, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau có 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh C và chữ ký của những người tham gia niêm phong là vật cấm sử dụng, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vỏ niêm phong ban đầu của Vi Kim T – Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau có 04 dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C và chữ ký của những người tham gia niêm phong là tang vật của vụ án nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[7] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

[7.1] Trong vụ án này, đối với nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Vi Kim T khai được mua với một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực cầu C thuộc tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng. Quá trình trao đổi, mua bán không có ai chứng kiến nên Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, xác minh, nếu có căn cứ sẽ tiến hành xử lý trong vụ án khác.

[7.2] Đối với người đàn ông lái xe ôm đưa T đi mua ma túy, do T không biết tên tuổi, địa chỉ của người lái xe ôm, không rõ loại xe, biển số xe nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để tiến hành xác minh, lấy lời khai.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vi Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vi Kim T 4 năm 6 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2025.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Vi Kim T 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để bảo đảm thi hành án.

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Số 487/KL-KTHS; Hoàn mẫu vụ Vi K, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau có 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh C và chữ ký của những người tham gia niêm phong và 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vỏ niêm phong ban đầu của Vi Kim T – Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau có 04 dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C và chữ ký của những người tham gia niêm phong.

Xác nhận số vật chứng hiện nay đang được tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 tỉnh Cao Bằng. Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 tỉnh Cao Bằng số 36 ngày 17/12/2025.

4. Án phí: Buộc bị cáo Vi Kim T phải chịu 200.000,₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cao Bằng;
  • - VKSKV1 -CB;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Phòng THADS KV1, tỉnh CB;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lục Thị Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 82/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi Kim T tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger