Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – CAO BẰNG

Bản án số: 81/2025/HS-ST

Ngày: 29-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dong
  • Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Bằng
  • 2. Ông Nguyễn Hồng Chính
  • Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Nụ - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Lý Hoàng Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 75/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 06/2025/HSST-QĐ ngày 22/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cao Bằng ấn định ngày mở lại phiên toà vào 8 giờ 00 phút ngày 29/12/2025 đối với bị cáo:

Bùi Thị N

(tên gọi khác: Không); Sinh ngày 01 tháng 3 năm 1984 tại T, Bắc Ninh); Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu V, phường K, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn S, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1948; Cùng trú tại: Thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh; Chồng: Trần Văn Đ, sinh năm: 1977; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2013; Anh chị em ruột: Có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình.

Tiền án; Tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 15/6/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 120/2022/HS-ST, xử phạt bị cáo 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 13/8/2025 đến nay. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh C; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

  • Ông Hoàng Tuấn N1; sinh năm: 1985; (vắng mặt có lý do)
  • Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường N, tỉnh Cao Bằng.
  • Bà Hoàng Thúy L; Sinh năm: 1981; (vắng mặt có lý do)
  • Nơi ĐKHKTT: Xóm N, xã T, tỉnh Cao Bằng.
  • Hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Q.

Người làm chứng:

  • Ông Bế Văn T; sinh năm: 1980; (vắng mặt không có lý do)
  • Nơi cư trú: Tổ F, phường T tỉnh Cao Bằng.
  • Ông Nguyễn Văn H; sinh năm: 1984; (Vắng mặt không có lý do)
  • Nơi cư trú: Số D H, khối Y, phường T, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng nhận được đơn trình báo của Hoàng Tuấn N1 (sinh ngày: 21/4/1985, trú tại: tổ B, phường N, tỉnh Cao Bằng) và Hoàng Thúy L (sinh ngày: 20/5/1981, trú tại: xóm N, xã T, tỉnh Cao Bằng) về việc: Bùi Thị N (sinh ngày: 01/3/1984, trú tại: khu V, phường K, tỉnh Bắc Ninh) nhận tiền đặt cọc mua lợn con nhưng không giao lợn và không trả lại tiền nên trình báo cơ quan điều tra để giải quyết.

Quá trình điều tra xác định: Đầu tháng 11/2019, Hoàng Thúy L gọi điện thoại di động hỏi Bế Văn T (sinh ngày: 13/4/1980, trú tại: tổ F, phường T, tỉnh Cao Bằng) tìm người cung cấp nguồn hàng thực phẩm đông lạnh. Trước đó, T sử dụng mạng xã hội W nên biết đến tài khoản của Bùi Thị N có đăng nhiều hình ảnh thực phẩm đông lạnh nên giới thiệu cho L biết. Sau đó, T gọi điện thoại đến số thuê bao di động 0389.888.983 hiển thị trên tài khoản Wechat của N. T, L và N đã gặp nhau nói chuyện tại quán T1, thuộc phố K, phường T, tỉnh Cao Bằng nhưng không thoả thuận kinh doanh gì với nhau.

Ngày 05/11/2019, Hoàng Tuấn N1 nói với L đang tìm người cung cấp lợn con với số lượng lớn và L đã giới thiệu về Nhẫn. Khoảng 08 giờ, ngày 06/11/2019, N1 và L gặp N tại quán C trên đường C, phường N, tỉnh Cao Bằng, N1 nói với N muốn mua 150 con lợn con, giống lợn Móng Cái khoang đen trắng, khối lượng từ 06kg đến 08kg/con. Bản thân N không sản xuất con giống vật nuôi, không đủ điều kiện kinh doanh giống vật nuôi theo quy định của pháp luật nhưng tự nhận có thể cung cấp được lợn con theo yêu cầu của N1. Để Nam tin tưởng, N đưa ra điều kiện mua bán N1 phải đặt cọc trước số tiền 100.000.000 đồng để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, N1 và N tiếp tục gặp nhau tại nhà của L ở tổ C, phường N, tỉnh Cao Bằng. Sau khi thống nhất việc mua bán, N1 chuyển 100.000.000 đồng vào số tài khoản 0351000632524 mang tên Bùi Thị N, thuộc Ngân hàng Thương mại cổ phần N2, còn N tự viết “Giấy chuyển tiền đặt cọc” đề ngày 06/11/2019 với nội dung: Tôi là Hoàng Tuấn N1, hồi 19 giờ 30 phút có chuyển cho chị N số tiền 100.000.000 đồng với mục đích đặt cọc mua lợn con, loại Móng Cái khoang đen trắng, giao động từ 06kg - 08kg, số lượng 150 con. Sau khi chị N mang lợn đến Cao Bằng, anh N1 phải thanh toán đủ số tiền tương ứng với số lượng hàng. Chị N hẹn đến ngày 10/11/2019 đến Cao Bằng giao cho anh N1. Giấy chuyển tiền do N1 giữ, có chữ ký của N (người nhận tiền), N1 (người giao tiền) và L (người làm chứng). Ngày 07/11/2019, L gặp khách hàng tìm mua giống lợn con có đặc điểm như lợn N1 đã đặt mua với N nên gọi điện thoại cho N hỏi có thể bán cho L 100 con và vận chuyển theo chuyến hàng của anh N1 không. Nhẫn đồng ý nhưng yêu cầu phải trả trước số tiền 50.000.000 đồng. Khoảng 14 giờ cùng ngày, L đến Ngân hàng Đ2 chi nhánh C1 chuyển số tiền 50.000.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng 0351000632524 của N.

Đến ngày 10/11/2019, N1 và L không thấy N giao lợn như thoả thuận, gọi điện thoại Nhẫn không trả lời. N1 sử dụng số điện thoại của người khác gọi thì N nói đã chở lợn từ tỉnh Nghệ An lên tỉnh Cao Bằng, xe đang đến tỉnh Lạng Sơn. Nghi ngờ N nói dối, N1 đi theo đường Quốc lộ 4 xuống tỉnh Lạng Sơn nhưng không gặp xe chở lợn nào. Do không liên lạc được với N nên ngày 11/11/2019, N1 và L đã làm đơn tố giác hành vi của N đến cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra nhiều lần gửi giấy triệu tập, tiến hành xác minh tại nơi cư trú nhưng N không chấp hành, vắng mặt tại địa phương. Tháng 02/2020, N thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số tiền 100.000.000 đồng thông qua thủ đoạn xin ra quân trước thời hạn đối với quân nhân đang thực hiện nghĩa vụ quân sự và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bắc Ninh bắt tạm giam từ ngày 01/9/2021 đến ngày 29/11/2021. Đến nay, N vẫn chưa trả lại tiền cho N1 và L.

Ngày 26/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết đứng tên Bùi Thị N đối với “Giấy chuyển tiền đặt cọc”. Tại Kết luận giám định số 303, ngày 01/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên Bùi Thị N trên mẫu cần giám định so với chữ ký, chữ viết đứng tên Bùi Thị N trên các mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra.

Tại cơ quan điều tra, N không thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, lời khai trước sau không thống nhất, mâu thuẫn với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Ngày 26/12/2019, N khai nhận: ngày 07/11/2019 Nhẫn đến tỉnh Nghệ An nhờ anh Nguyễn Văn H (sinh ngày 22/02/1984, trú tại: số D H, khối Y, phường T, tỉnh Nghệ An) dẫn đi mua 376 con lợn tại các nhà dân. Ngày 08/11/2019, N nhờ anh H thuê xe ôtô chở 250 con lợn lên tỉnh Cao Bằng cho N1 và L. Khi đang đến tỉnh Lạng Sơn, L gọi điện thoại nói với N: “Nam là người lừa đảo, ở trên này nó không làm được gì đâu, em đem hàng lên cẩn thận bị cướp trắng chị không biết đâu đấy”. Do L nói như vậy nên N không giao lợn cho N1 mà bán cho một người bạn ở nước Trung Quốc. Buổi sáng ngày 10/11/2019, N cho xe chở lợn đến khu vực Cột mốc 795, thuộc huyện H, tỉnh Cao Bằng, gọi điện thoại nhờ anh Hoàng Văn Đ1 (sinh năm: 1998, nhà ở gần cột mốc) làm thủ tục vận chuyển lợn sang nước Trung Quốc. Nhẫn được anh Đỗ B cho biết khi xe chở lợn đến Cột mốc bị khoảng 08 người đập chết hơn 50 con lợn. Sau khi xảy ra sự việc, N1 và L không liên lạc gì với N. Nhẫn thừa nhận đã nhận số tiền 100.000.000 đồng của N1, không được nhận số tiền 50.000.000 đồng của L vì L chưa chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho N lần nào. Ngoài ra, N khai nhận: trước đây N làm công việc thu mua lòng già của lợn tại chợ T2, tỉnh Phú Thọ rồi bán lại cho người khác ở tỉnh Bắc Ninh, N chưa từng kinh doanh lợn con, chưa đến tỉnh Cao Bằng, trước năm 2023 chưa đến tỉnh Nghệ An, N không quen biết N1, L và H. Nhẫn vẫn đang sử dụng số thuê bao di động 0389.888.983, không nhớ đã từng sử dụng số tài khoản ngân hàng C2.

Các bị hại Hoàng Tuấn N1 và bà Hoàng Thúy L vắng mặt tại phiên toà, đều có đơn xin xét xử vắng mặt và có yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường dân sự cho ông Hoàng Tuấn N1 số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), bà Hoàng Thúy L số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Bản cáo trạng số: 21/CT-VKSKV1 ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Bùi Thị N về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Thị N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù.

  • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Không có
  • Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 275, 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015 Buộc bị cáo phải bồi thường tiền cho ông Hoàng Tuấn N1 số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) và bà Hoàng Thúy L số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng)
  • Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận bị cáo cho rằng do sự việc xảy ra đã lâu nên bị cáo không nhớ gì về hành vi của mình. Hội đồng xét xử đã công bố tài liệu và trình chiếu tài liệu giấy chuyển tiền đặt cọc ngày 06/11/2019 giữa ông Hoàng Tuấn N1 và Bị cáo số tiền 100.000.000 đồng; Biên bản lấy lời khai bị cáo ngày 26/12/2019, sau khi công bố bị cáo thừa nhận về chữ ký, chữ viết của giấy chuyển tiền đặt cọc là đúng chữ ký, chữ viết của bị cáo với ông N1. Đối với bị hại Lường thì bị cáo khai không nhớ có được nhận tiền của L và mua bán lợn con hay không bị cáo cũng không nhớ, Hội đồng xét xét công bố lời khai và trình chiếu bản sao kê chi tiết của Ngân hàng V cung cấp thể hiện ngày 07/11/2019 HOANG THUY LUONG CT HANG BUI THỊ NHAN vào số tài khoản 0351000632524 số tiền 50.000.000 đồng, bị cáo thừa nhận đây là số tài khoản của bị cáo, có việc chuyển tiền nhưng không nhớ là tiền hàng hay là tiền gì. Tại phiên toà, bị cáo không nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên về tội danh cũng như mức hình phạt, bị cáo cho rằng bị cáo không nhớ. Tuy nhiên, bị cáo nhất trí bồi thường dân sự cho các bị hại.

Kiểm sát viên đối đáp: Lời khai của bị cáo trước sau không thống nhất, mâu thuẫn với lời khai của các bị hại và những người làm chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, ngoài ra không có tài liệu nào khác nên không có giá trị chứng minh trong vụ án hình sự. Điều này cho thấy lời khai của bị cáo là gian dối, không có thật. Bị cáo cho rằng không biết lý do vì sao không nhớ sự việc được nhận đặt cọc mua lợn, không nhớ đã từng gặp N1 và L là bởi vì những tình tiết bị cáo khai nhận vào năm 2019 chưa từng xảy ra trong thực tế, bị cáo chưa từng làm các ngành nghề như lời khai của bị cáo vào năm 2019, đây chính là nguyên nhân bị cáo không thể nhớ được trước đây đã khai nhận như thế nào nên lời khai trước sau không thống nhất. Tại biên bản xác minh ngày 11/6/2025 tại Công an phường V, tỉnh Bắc Ninh xác định bị cáo đang chấp hành án phạt tù cho hưởng án treo tại địa phương, bị cáo không có tiền sử mắc bệnh về thần kinh hay hạn chế về mặt nhận thức. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai bị hại, người làm chứng đều phù hợp, đủ chứng cứ chứng minh về hành vi khách quan, bị cáo không có khả năng, điều kiện sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi, chưa từng kinh doanh mặt hàng lợn giống, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin sai sự thật “tự nhận là người cung cấp lợn con, yêu cầu bên mua phải đặt cọc tiền trước khi giao hàng”. Trên trang mạng xã hội, bị cáo còn đăng tải nhiều hình ảnh hàng hoá, bản thân tự tạo hình ảnh như một doanh nhân làm cho bị hại tin đó là thật và giao tài sản cho bị cáo. Sau khi chuyển dịch trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình, bị cáo đã định đoạt số tiền chiếm đoạt vào mục đích cá nhân. Khi bị đòi lại tài sản, bị cáo tiếp tục dùng thủ đoạn gian dối, bịa đặt nhiều lý do trốn tránh nghĩa vụ, cắt đứt liên lạc với bị hại, trốn tránh cơ quan điều tra khi được triệu tập để làm việc. Thời điểm tội phạm hoàn thành được xác định từ bị cáo chiếm giữ tiền của các bị hại sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho bị hại giao tài sản. Hậu quả của tội phạm bị cáo đã thực hiện gây thiệt hại về tài sản cho hai người với tổng số tiền là 150.000.000 đồng, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Thông qua những biểu hiện của hành vi khách quan thể hiện ý thức chủ quan của bị cáo là mong muốn chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của bị hại thành của mình. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do vậy, Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội trở lại với cộng đồng là công dân lương thiện có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên toà, bị hại Hoàng Thúy L và Hoàng Tuấn N1 vắng mặt tại phiên toà và đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, người làm chứng ông Bế Văn T, ông Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên toà không có lý do nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Căn cứ theo Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi của bị cáo đã thực hiện: Ngày 06/11/2019 và ngày 07/11/2019 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Bùi Thị N không có khả năng, điều kiện sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi nhưng đã dùng thủ đoạn gian dối dưới hình thức tự nhận là người cung cấp lợn con, yêu cầu bên mua phải đặt cọc tiền trước khi giao hàng để chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng của Hoàng Tuấn N1 và số tiền 50.000.000 đồng của Hoàng Thúy L. Tổng số tiền N đã chiếm đoạt là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Sau khi chiếm đoạt được tài sản, N tiếp tục dùng thủ đoạn gian dối nhằm trốn tránh nghĩa vụ theo thỏa thuận và cắt đứt mọi liên lạc với bị hại.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.

Tại phiên toà, bị cáo đã không thừa nhận là bản thân có hành vi mua bán lợn con, loại lợn con móng cái khoang đen trắng với bị hại ông N1 và bà L. Sau khi Hội đồng xét xử công bố các lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng và trình chiếu các tài liệu có trong hồ sơ, bị cáo thừa nhận giấy chuyển tiền đặt cọc ngày 06/11/2019 giữa ông N1 với bị cáo có viết giấy và có chữ ký của bị cáo. Trùng khớp với kết quả giám định số 303/KL-KTHS ngày 01/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh C Kết luận “Chữ ký, chữ viết đứng tên Bùi Thị N trên mẫu giám định so sánh với mẫu chữ ký, chữ viết đứng tên Bùi Thị N trên các mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra”.

Đối với bị hại Lường thì bị cáo khai không nhớ có được nhận tiền và mua bán lợn con hay không vì bị cáo cũng không nhớ, Hội đồng xét xét công bố các lời khai và trình chiếu bản sao kê chi tiết của Ngân hàng V cung cấp thể hiện ngày 07/11/2019 HOANG THUY LUONG CT HANG BUI THỊ NHAN vào số tài khoản 0351000632524 số tiền 50.000.000đ, bị cáo thừa nhận đây là số tài khoản của bị cáo, có việc chuyển tiền nhưng không nhớ là tiền hàng gì.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, các lời khai của bị cáo có sự mâu thuẫn, không thống nhất, bị cáo bịa đặt nhiều lý do nhằm biện minh cho hành vi của mình, cho rằng bị cáo không nhớ gì. Xét bị cáo không có tiền sử mắc bệnh về thần kinh hay hạn chế về mặt nhận thức. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai bị hại, người làm chứng đều trùng khớp và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, xác định được như sau: Ngày 06/11/2019 và ngày 07/11/2019 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Bùi Thị N không có khả năng, điều kiện sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi nhưng đã dùng thủ đoạn gian dối dưới hình thức tự nhận là người cung cấp lợn con, yêu cầu bên mua phải đặt cọc tiền trước khi giao hàng để chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng của Hoàng Tuấn N1 và số tiền 50.000.000 đồng của Hoàng Thúy L. Tổng số tiền N đã chiếm đoạt là 150.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, N tiếp tục dùng thủ đoạn gian dối nhằm trốn tránh nghĩa vụ theo thỏa thuận và cắt đứt mọi liên lạc với bị hại.

Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Cao Bằng đã truy tố là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

[4] Xét bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý, bị cáo dùng thủ đoạn gian dối, lợi dụng sự tin tưởng của bị hại để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

Xét về nhân thân của bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhưng bị cáo có nhân thân xấu cụ thể: Ngày 15/6/2022, bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quy định: “Trường hợp người đang được hưởng án treo mà lại phát hiện trước khi được hưởng án treo họ đã thực hiện một tội phạm khác thì Toà án quyết định hình phạt đối với tội phạm đó và không tổng hợp hình phạt với bản án cho hưởng án treo. Trong trường hợp này, người phạm tội phải đồng thời chấp hành 02 bản án và việc thi hành án do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự”. Như vậy, xác định hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này là xảy ra trước, do đó không áp dụng điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự là tái phạm đối với bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; biện minh cho mình vì lý do không nhớ gì, thể hiện còn quanh co, chối tội gây khó khăn cho cơ quan điều tra, truy tố, xét xử. Bị cáo có bố đẻ ông Bùi Văn S có giấy chứng nhận Hội cựu thanh niên xung phong Việt Nam và được tặng Huy hiệu “Cựu thanh niên xung phong làm theo lời Bác” ngày 21/11/2022 của Ban Chấp hành Hội cựu thanh niên xung phong Việt Nam, tuy nhiên căn cứ Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân tối cao Hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 51 và điều 52 của Bộ luật hình sự thì đây không được coi là tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo đã thực hiện 02 (Hai) lần chiếm đoạt tiền của 02 bị hại ông N1, bà L với tổng số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về quyết định hình phạt chính: Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt cao trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy bị cáo không có khả năng tự cải tạo nên cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, bản thân bị cáo hiện nay đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[7] Về Trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà và có yêu cầu bị cáo phải trả khoản tiền trên không tính lãi, buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự cho bị hại Hoàng Thúy L số tiền 50.000.000 đồng và bị hại Hoàng Tuấn N1 số tiền 100.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt của bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Các Điều 275, 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo.

Tuyên bố:

  1. Về tội danh: Bị cáo Bùi Thị N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Thị N 05 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13/8/2025. Quyết định tạm giam bị cáo sau phiên toà để đảm bảo việc Thi hành án.
    • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về Trách nhiệm dân sự:
    • Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt dân sự cho bị hại ông Hoàng Tuấn N1, địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, tỉnh Cao Bằng số tiền: 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
    • Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt dân sự cho bị hại bà Hoàng Thúy L, nơi cư trú: xóm N, xã T, tỉnh Cao Bằng (Hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Q, thôn T, xã B, tỉnh Tuyên Quang) số tiền: 50.000.000₫ (Năm mươi triệu đồng).

    Kể từ khi có quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự, nếu bị cáo chưa thanh toán số tiền trên cho các bị hại ông Hoàng Tuấn N1 và bà Hoàng Thúy L thì hàng tháng phải chịu lãi suất theo mức lãi xuất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với số tiền chưa thi hành.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Về án phí: Bị cáo Bùi Thị N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 7.500.000₫ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng), tổng cộng cả hai khoản án phí bị cáo phải nộp số tiền: 7.700.000₫ (Bảy triệu bảy trăm nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  6. Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • Bị cáo; Bị hại;
  • Trại tạm giam Công an tỉnh CB;
  • Công an tỉnh Cao Bằng;
  • VKSND khu vực 1- Cao Bằng;
  • VKS nhân dân tỉnh Cao Bằng;
  • TAND tỉnh Cao Bằng;
  • Phòng THADS KV 1 -Cao Bằng;
  • THADS tỉnh Cao Bằng;
  • Lưu hồ sơ;
  • Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Dong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CAO BẰNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 81/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự Bùi Thị N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger