Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – CAO BẰNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 80/2025/HSST

Ngày 24/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Hương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Bằng.

2. Ông Long Văn Thanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Lục Đức Long – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Đinh Mạnh Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh C xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Cao Bằng đối với bị cáo:

Hoàng Văn N; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12/11/1982 tại xã H, tỉnh Cao Bằng;

Nơi đăng ký thường trú: Xóm H, xã H, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường N, tỉnh Cao Bằng (Địa chỉ cũ: Xóm H V, phường N, tỉnh Cao Bằng); Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông: Hoàng Văn H, sinh năm 1959 và bà: Nguyễn Thị B, sinh năm 1958; Vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1985; con: có 2 con; con lớn sinh năm 2004; con nhỏ sinh năm 2020;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 21/11/2017 Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội;

- Ngày 26/4/2005 Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản.

Hiện tại bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C kể từ ngày 06/8/2025 đến nay. Hiện đang tạm giam theo Lệnh tạm giam số 55/2025/HSST-QĐTG ngày 19/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Cao Bằng. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nông Văn D - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Thị Đ; Sinh năm: 1985;

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

- Người làm chứng: Thẩm Đức A; sinh năm: 1981;

Địa chỉ: Xóm K, xã Q, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 30 phút ngày 04/8/2025 tại khu vực tổ C N, phường N, tỉnh Cao Bằng (nay là tổ dân phố A, phường N, tỉnh Cao Bằng), Công an phường N, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Thẩm Đức A (sinh ngày: 24/5/1981; Trú tại: xóm K, xã Q, tỉnh Cao Bằng) có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Tại túi quần đằng trước bên phải Đức A đang mặc thu giữ 01 (một) gói giấy viết màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (Đức A khai nhận là H1) đem cân có khối lượng 0,08g (không phẩy không tám gam); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, số IMEI1: 862980060651833, số IMEI2: 862980060651825; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Ford, màu trắng, biển kiểm soát 11C-065.71.

Tại cơ quan điều tra, Thẩm Đức A khai nhận số Heroine bị thu giữ là của Đức A vừa mua với Hoàng Văn N (sinh ngày: 12/11/1982; Trú tại: tổ dân phố H, phường N, tỉnh Cao Bằng) với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).

Hồi 21 giờ 35 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn N tại tổ dân phố H, phường N, tỉnh Cao Bằng. Vật chứng thu giữ:

+ 01 (một) cân điện tử không rõ nhãn hiệu, trên mặt cân có bám dính chất bột màu trắng đem cân có khối lượng 0,0016g (không phẩy không không một sáu gam), thu giữ tại gầm bàn gỗ trong phòng khách;

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu đen, số IMEI 1: 865098060111273, số IMEIL2: 865098060111265, thu giữ trên bàn uống nước trong phòng khách;

+ 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, màu đỏ, biển kiểm soát 11A-095.70. Thu giữ trên xe ô tô: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG, màu xanh, mặt sau có vết nứt vỡ, số IMEI1: 351676561471139, số IMEI2: 357896811471135, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu xanh, số IMEII: 861421070840976, số IMEI2: 861421070840968, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 11000110 mang tên Nguyễn Thị Đ.

Ngày 05/8/2025 và ngày 06/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C ra Quyết định trưng cầu giám định số 2125, 2131 đối với vật chứng vụ án. Tại các Bản kết luận giám định số 387, 388 ngày 11/8/2025 của Phòng K, Công an tỉnh C kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong cả hai phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin).

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 17 giờ ngày 04/8/2025, Hoàng Văn N điều khiển xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, biển kiểm soát 11A-095.70 đi từ nhà đến khu vực bến xe khách cũ thuộc phường N, tỉnh Cao Bằng tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Tại đây, N gặp 01 (một) người đàn ông không quen biết, dáng giống người nghiện nên hỏi mua Heroine. Người đàn ông đồng ý, N đưa cho người đàn ông số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), người này nhận tiền rồi đưa lại cho N 01 (một) gói Heroine gói bằng giấy viết màu trắng. Sau khi mua được H1, N điều khiển xe ô tô đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Thẩm Đức A gọi điện thoại cho N hỏi mua ma túy và hẹn gặp N ở khu vực gần đường tròn phường N để trao đổi mua bán thì N đồng ý. Nghiệp lấy số Heroine vừa mua được ra để lên 01 (một) chiếc cân điện tử để chia ma túy và sử dụng một phần cho bản thân bằng hình thức hít rồi gói ma túy lại. Sau đó, N điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 11A-095.70 đến khu vực gần đường T để gặp Đức A. Tại đây, Đức A đưa cho N số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) qua cửa kính phía trước bên phụ xe ô tô Nghiệp đang dừng ở ven đường, N nhận tiền rồi đưa cho Đức A 01 (một) gói Heroine gói bằng giấy viết màu trắng. Sau khi mua được Heroine, Đức A đi đến khu vực tổ dân phố A, phường N, tỉnh Cao Bằng thì bị Công an phường N, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang, thu giữ gói Heroine vừa mua với Nghiệp. Hồi 21 giờ 35 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn N đã thu giữ 0,0016g (không phẩy không không một sáu gam) Heroine bám dính trên chiếc cân điện tử của N đã sử dụng trước đó.

Bản cáo trạng số 23/CT-VKSKV1 ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Cao Bằng truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai: Do bản thân nghiện, sống lệ thuộc vào ma túy nên đã tìm mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Do là người cùng quê và có quen biết với Thẩm Đức A từ trước nên ngày 04/8/2025 khi được hỏi mua, bị cáo đã bán lại ma tuý cho Thẩm Đức A. Khi mới bị bắt, vì hoang mang lo sợ nên bị cáo chưa khai nhận tội. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng phản ánh đúng hành vi phạm tội của mình, không oan và nhất trí khối lượng ma túy mình bị thu giữ là 0,0016g (không phẩy không không một sáu gam), loại ma túy Heroine. Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast màu đỏ biển kiểm soát 11A-095.70 là tài sản chung do vợ chồng bị cáo tích góp tiền mua được; bị cáo đã sử dụng chiếc xe này làm phương tiện di chuyển khi đi bán ma túy cho Đức A; mong hội đồng xét xử trả lại xe cho vợ bị cáo – Nguyễn Thị Đ. Chiếc cân điện tử bị cáo dùng để sử dụng ma túy. Chiếc điện thoại di động Sam sung màu xanh là của bị cáo, đã sử dụng để liên lạc bán ma túy cho Thẩm Đức A. Các tài sản, vật chứng khác bị cáo không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - chị Nguyễn Thị Đ trình bày: Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast màu đỏ biển kiểm soát 11A-095.70 là của chị vay tiền mua. Ngày 04/8/2025 chị có cho bị cáo mượn xe nhưng không biết bị cáo sử dụng xe để đi bán ma túy. Hai chiếc điện thoại Realme màu xanh và R màu đen, Giấy chứng nhận đăng ký xe bị tạm giữ trong vụ án là của chị. Mong Hội đồng xét xử trả lại những tài sản này để chị tiếp tục sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là ma túy, cân điện tử màu đen. Tịch thu phát mại 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast màu đỏ biển kiểm soát 11A-095.70 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu xanh. Trả lại cho chị Nguyễn Thị Đ 02 điện thoại di động Realme xanh và R đen do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát về căn cứ và tội danh. Tuy nhiên bị cáo bán ma túy nhỏ lẻ với khối lượng không đáng kể; bị cáo không có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, gia đình bị cáo đang thờ cúng ông Hoàng Văn T (ông nội bị cáo) là liệt sỹ đã được tặng Huân chương kháng chiến Hạng Ba. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng: Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung; đồng thời trả lại các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bị cáo nhất trí với ý kiến của người bào chữa và không có tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng, không có ý kiến tự bào chữa bổ sung.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo tỏ thái độ ăn năn và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Công an phường N, tỉnh Cao Bằng; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Quá trình điều tra, các ngày 04, 05/8/2025 bị cáo không khai nhận tội. Từ ngày 06/8/2025 bị cáo thay đổi lời khai, nhận hành vi phạm tội đã bán ma túy cho Thẩm Đức A; từ đó đến phiên tòa hôm nay lời khai của bị cáo thống nhất, phù hợp với lời khai của người làm chứng Thẩm Đức A trong suốt quá trình điều tra; phù hợp với toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo; phù hợp với Kết luận giám định cũng như các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Vào khoảng 19 giờ ngày 04/8/2025 tại khu vực tổ C N, phường N, tỉnh Cao Bằng (nay là tổ dân phố A, phường N, tỉnh Cao Bằng), Hoàng Văn N có hành vi bán cho Thẩm Đức A 01 (một) gói Heroine có khối lượng 0,08g (không phẩy không tám gam) với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Hồi 21 giờ 35 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn N đã thu giữ 0,0016g (không phẩy không không một sáu gam) Heroine của N tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán lại khi có người hỏi mua.

Đây là vụ án mua bán trái phép chất ma túy có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với lỗi cố ý.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy lâu năm, có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; gia đình bị cáo đang thờ cúng ông ông nội bị cáo: Hoàng Văn T - là liệt sỹ, được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến Hạng Ba trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vì vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hoàng Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về hình phạt chính:

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, nghiện ma túy lâu năm, sống lệ thuộc vào ma túy. Bị cáo hiểu rất rõ ma túy là chất bị nhà nước cấm sử dụng và tác hại của ma túy đối với bản thân, cũng như xã hội nhưng vẫn coi thường, bất chấp quy định của pháp luật để mua bán ma túy kiếm lời. Vì vậy, cần đưa ra mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội; nhưng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ khi lượng hình đối với bị cáo.

[4.2] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Việc xử lý vật chứng:

Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần:

- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy là vật bị cấm tàng trữ, lưu hành; 01 chiếc cân điện tử màu đen bị cáo dùng để sử dụng trái phép ma túy (không còn giá trị sử dụng).

- Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc ô tô màu đỏ nhãn hiệu Vinfast (kèm chìa khóa và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe), 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu xanh do đã sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Đ: 01 chiếc điện thoại Realme màu xanh, 01 chiếc điện thoại Realme màu đen do không liên quan đến hành vi phạm tội.

[6] Về án phí:

Bị cáo Hoàng Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

[7.1] Đối với Thẩm Đức A do chưa có tiền án, tiền sự về các tội liên quan đến ma túy, khối lượng ma túy tàng trữ chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, đồng thời Đức A chưa đi cai nghiện ma túy và không thuộc diện quản lý người nghiện. Do vậy, ngày 05/8/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã ra quyết định trả tự do và trả lại các đồ vật, tài sản đã tạm giữ cho Đức A. Ngày 29/10/2025 Công an tỉnh C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Thẩm Đức A về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

[7.2] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, quan điểm xử lý vật chứng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được chấp nhận.

Ý kiến của người bào chữa về các tình tiết giảm nhẹ phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và mức hình phạt:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/8/2025.

[2] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “SỐ: 385/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Thẩm Đức A, bắt ngày 04/8/2025”, mặt sau phong bì có chữ ký của thành phần tham gia và đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh C;

+ 01 cân điện tử màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.

- Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước:

+ 01 xe ô tô biển số: 11A-095.70, ngày đăng ký: 14/11/2023, chủ xe: Nguyễn Thị Đ; Loại xe: ô tô con nhãn hiệu VINFAST; số loại FADIL; Màu sơn: Đỏ; Số máy: LV7211470141; Số khung: RPXCA2FACMV013427; Dung tích xi lanh: 1399 cm³; Năm SX: 2021; Số chỗ ngồi: 5. Xe đã qua sử dụng. Kèm 01 chìa khóa xe và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 11000110, tên chủ xe Nguyễn Thị Đ.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, mặt sau có vết nứt vỡ. Tại thời điểm kiểm tra máy không lên nguồn không kiểm tra được số IMEI. Điện thoại đã qua sử dụng.

- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Nguyễn Thị Đ (Sinh năm: 1985; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N, tỉnh Cao Bằng):

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, số IMEI1: 861421070840976, IMEI2: 861421070840968, màn hình có vết nứt vỡ. Điện thoại đã qua sử dụng.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu đen, phần camera sau có vết nứt vỡ. Tại thời điểm kiểm tra không lên nguồn không kiểm tra được I. Điện thoại đã qua sử dụng.

Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Cao Bằng theo biên bản giao, nhận vật chứng số 29 ngày 26 tháng 11 năm 2025.

[3] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hoàng Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

[4] Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng
  • (PC 04, PV 06);
  • - Thi hành án DS tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát KV1 - Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Hương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HSST ngày 24/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CAO BẰNG về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 80/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 19 giờ ngày 04/8/2025 tại khu vực tổ C N, phường N, tỉnh Cao Bằng (nay là tổ dân phố A, phường N, tỉnh Cao Bằng), Hoàng Văn N có hành vi bán cho Thẩm Đức A 01 (một) gói Heroine có khối lượng 0,08g (không phẩy không tám gam) với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Hồi 21 giờ 35 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn N đã thu giữ 0,0016g (không phẩy không không một sáu gam) Heroine của N tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán lại khi có người hỏi mua.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger