Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - SƠN LA

Bản án số: 80/2025/HS-ST

Ngày 29-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hội, bà Lò Thị Minh.

  • Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HSST-QĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 01/2025/TB-TA ngày 22 tháng 12 năm 2025 đối với:

  • - Bị cáo: Lê Thị G, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1992 tại xã X, tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: Xóm L, xã X, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại: Số nhà B, ngõ B phố H, phường Y, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình H và bà Nguyễn Thị L; bị cáo có chồng là Nguyễn Văn T (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2025 đến nay. Có mặt.

  • - Bị hại: Chị Bùi Thị N, sinh năm: 1985. Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường T, tỉnh Sơn La. Có mặt.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • + Chị Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh năm: 1980. Nơi cư trú: Tổ F, phường H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

    • + Anh Lê Việt H1, sinh năm: 1981. Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

    • + Anh Lê Đình S, sinh năm: 1994. Nơi cư trú: Xóm L, xã X, tỉnh Nghệ An.

  • - Người làm chứng: + Anh Phạm Văn K, sinh năm: 1971. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị G làm công việc buôn bán hoa quả. Ngày 20/6/2025, G đi lên khu vực phường T liên hệ với Hà Thị T1 cư trú tại tổ dân phố P, phường T, tỉnh Sơn La để mua mận hậu thì được T1 giới thiệu sang nhà Bùi Thị N để xem mận. Đến 20 giờ cùng ngày, sau khi G xem thấy quả mận của gia đình N có thể thu mua được nên G đã đặt hàng để N thu mua cho G 22 tấn mận hậu với giá 4000 đồng/1kg và giao nhận vào ngày 21/6/2025, N đã liên hệ với những người dân trồng mận và thuê người bứt mận của gia đình để bán cho G. Đến sáng ngày 21/6/2025, N cùng G đi xem các vườn mận để cho người dân bứt mận rồi G nhờ N mua cho G 14.000.000 đồng tiền thùng xốp để G đóng mận, G sẽ trả tiền sau. Sau đó, N và G cùng những người làm thuê về lán nương của gia đình Bùi Đình B ở tổ dân phố P để cùng đóng mận vào thùng xốp. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày G nói dối N là xe ô tô của G thuê lên chở mận đang trên đường từ Hà Nội lên nhưng G không còn tiền trong tài khoản và G đang phải thanh toán một chuyến hàng dưa hấu tại chợ D Hà Nội nên hỏi vay của N 35.000.000 đồng để G trả tiền hàng dưa hấu trước, khi lái xe ô tô của G lên thì G sẽ trả lại tiền cho N. Vì tin tưởng nên N kiểm tra tiền trong tài khoản của N thấy chỉ còn có 26.000.000 đồng nên N đã hỏi vay tiền của Phạm Văn K cư trú tại tổ dân phố M, phường T là người Nhì hỏi mua mận để bán cho G đang ở cùng chỗ N, K đồng ý và bảo K chỉ có 7.000.000 đồng trong tài khoản. Nhì bảo với G là N chỉ có 33.000.000 đồng, G đồng ý và bảo N chuyển khoản cho G, sau đó N đã chuyển 26.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Q1 (M) của N, còn K chuyển khoản số tiền 7.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng N3 (A) của K sang tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần K1 (T3) số tài khoản 88888880826 của Nguyễn Thị Ngọc N1 cư trú tại tổ F, phường H, thành phố Hà Nội là người quen của G, tổng số tiền N chuyển khoản cho G là 33.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tiền, đến 14 giờ chiều cùng ngày G nói dối N ra ngoài đường quốc lộ 6 để đón xe ô tô lên chở mận, trên xe có thùng xốp rồi nên cứ bảo mọi người chuyển mận về khi nào xe đến thì đóng và chuyển lên xe ô tô luôn. Nhì tin tưởng nên tiếp tục bảo người dân bứt mận và chuyển đến. Sau đó G đi ra ngoài tổ dân phố B, phường T, tỉnh Sơn La vào quán bán điện thoại di động của Lê Văn H2 để đổi tiền từ tài khoản ngân hàng ra tiền mặt, G gọi điện cho N1 bảo N1 chuyển số tiền 33.000.000 đồng sang tài khoản của Lê Văn H2 để G rút tiền mặt. Sau khi đã rút được số tiền 33.000.000 đồng, G đi taxi ghép về thành phố Hà Nội và sử dụng số tiền 15.700.000 đồng để trả nợ cho Cao Văn T2 cư trú tại ngõ B, phố H, phường Y, thành phố Hà Nội, sử dụng 5.000.000 đồng để thanh toán tiền nhà trọ cho Vũ Thị H3 cư trú tại phố B, phường K, thành phố Hà Nội. Còn lại 12.300.000 đồng G đã chi tiêu, sử dụng vào mục đích cá nhân. Bùi Thị N không thấy G quay lại để nhận mận và thanh toán tiền mua mận cũng như số tiền đã hỏi vay, gọi điện thì không liên lạc được, N nhờ Hà Thị T1 gọi cho G bằng cả điện thoại và Z nhưng không liên lạc được nên có đơn tố cáo hành vi lừa đảo của G đến Công an phường T. Ngày 04/9/2025, cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Thị G.

Quá trình điều tra Lê Thị G khai nhận: G đến sinh sống tại địa chỉ số nhà B, ngõ B, phố H, phường Y, thành phố Hà Nội cùng với Sầm Văn N2, Sầm Văn Q đều cư trú tại thôn Đ, xã P, tỉnh Tuyên Quang nhưng không đăng ký khai báo tạm trú hay thường trú. Thời gian giữa tháng 6/2025, G được một người tự giới thiệu tên L1 ở chợ đầu mối của Hà Nội đặt mua 19 tấn mận hậu của Mộc C nên G đã đến gặp N để thực hiện việc mua bán mận hậu. Ngày 21/6/2025, khi G đang đi hái mận tại nhà N thì L1 có nhắn tin cho G thông báo do thời tiết dưới Hà Nội mưa nên không mua mận hậu nữa nhưng do khi đó G đang hái mận nên không để ý đến tin nhắn mà L1 đã nhắn tin. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, G xem lại điện thoại di động mới thấy tin nhắn của L1, G gọi lại cho L1 nhưng L1 đã chặn số điện thoại nên không thể liên lạc được nên G không mua mận của N nữa và bỏ trốn.

Ngày 04/9/2025, Công an phường T đã tiến hành cho Bùi Thị N nhận diện đối với Lê Thị G, kết quả: Bùi Thị N nhận diện Lê Thị G là người đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ngày 05/9/2025, cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở trọ của Lê Thị G tại số nhà B, ngõ B, phố H, phường Y, thành phố Hà Nội. Kết quả khám xét không thu giữ gì.

Cơ quan điều tra đã xác định Nguyễn Thị Ngọc N1 chủ số tài khoản 8888880826 tại ngân hàng T3. Ngày 21/6/2025, N1 có nhận số tiền với 02 mã chuyển khoản đến từ tài khoản M số tài khoản 6660394428776 mang tên Bùi Thị N số tiền 26.000.000 đồng và tài khoản A số tài khoản 7902205012060 mang tên Phạm Văn K số tiền 7.000.000 đồng. Sau đó N1 chuyển số tiền trên từ tài khoản của N1 đến số tài khoản M có số 0915472188 mang tên Le Viet H4. Lê Việt H1 là chủ số tài khoản 0915472188 tại ngân hàng M, sau khi nhận số tiền 32.975.000 đồng từ tài khoản 8888880826 đã đổi sang tiền mặt đưa cho G. N1 và H1 không biết số tiền trên do G phạm tội mà có.

Đối với Sầm Văn N2 và Sầm Văn Q, là những người ở cùng phòng trọ với Lê Thị G, việc sinh hoạt chung của cả ba gồm tiền điện nước, ăn uống, phòng trọ sẽ được ghi vào sổ và chia nhau chi tiêu hằng ngày chung cho cả ba người. Năm và Q không biết số tiền G sử dụng chi tiêu hàng ngày do G lừa đảo chiếm đoạt mà có. Do đó không đề cập đến việc xử lý.

Đối với Cao Văn T2 và Vũ Thị H3 là người mà G đã sử dụng số tiền chiếm đoạt được trả nợ và thanh toán tiền phòng trọ. Tuy nhiên, T2 và H3 đã chi tiêu hết số tiền nên cơ quan điều tra không thu giữ được.

Đối với Hà Thị T1 không biết việc G chiếm đoạt số tiền 33.000.000 đồng của N. Do đó không đề cập biện pháp xử lý.

Đối với người đàn ông tên L1 có đặt mua mận với Lê Thị G. Do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh.

Đối với Nguyễn Thị Ngọc N1, Lê Việt H1 là những người đã nhận tiền và chuyển tiền giúp cho Lê Thị G, không biết số tiền đó là do G lừa đảo chiếm đoạt mà có. Do đó không đề cập việc xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bùi Thị N yêu cầu Lê Thị G bồi thường số tiền 33.000.000 đồng N bị G chiếm đoạt và bồi thường thiệt hại về tài sản cho N số tiền 79.380.000 đồng bao gồm tiền mua mận của người dân khác là 57.900.000 đồng, tiền mua thùng xốp và băng dính 14.000.000 đồng, tiền công thuê người hái và đóng mận 6.700.000 đồng, tiền mua cơm trưa 780.000 đồng.

Ngày 22/12/2025, anh Lê Đình S (em trai của Lê Thị G) đại diện cho bị cáo đã thực hiện bồi thường thiệt hại cho Bùi Thị N số tiền 33.000.000 đồng. Bùi Thị N yêu cầu Lê Thị G có trách nhiệm bồi thường tiếp số tiền là 79.380.000 đồng.

Cáo trạng số 37/CT-VKS-KV6 ngày 06/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La truy tố bị can Lê Thị G về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Lê Thị G khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện, đúng như lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, không thay đổi hay bổ sung gì so với lời khai đã khai tại cơ quan điều tra.

  • - Bị hại Bùi Thị N giữ nguyên lời khai như đã khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, không thay đổi hay bổ sung gì so với lời khai đã khai tại cơ quan điều tra.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thị G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025:

    Xử phạt bị cáo Lê Thị G từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự:

    Ghi nhận việc anh Lê Đình S (em trai bị cáo Lê Thị G) đại diện cho bị cáo đã tự nguyện thống nhất, thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho chị Bùi Thị N số tiền 112.380.000 đồng bao gồm số tiền chiếm đoạt trái phép là 33.000.000 đồng và số tiền thiệt hại về tài sản là 79.380.000 đồng. Anh Lê Đình S đã bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo số tiền 33.000.000 đồng cho chị Bùi Thị N. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho chị Bùi Thị N số tiền còn lại là 79.380.000 đồng.

    Ghi nhận việc anh Lê Đình S không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền 33.000.000 đồng anh S đã sử dụng để bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo.

  3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 89, 90 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 cuốn sổ tập dòng kẻ ngang, kích thước 135x195mm bìa màu hồng, nhãn hiệu HAITIEN do Sầm Văn Q giao nộp, bên trong có nội dung ghi chép chi tiêu các loại khoản tiền.

  4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

    Bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo, bị hại nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận, đối đáp gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lê Thị G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/6/2025, bị cáo Lê Thị G đã dùng thủ đoạn gian dối, lợi dụng lòng tin của chị Bùi Thị N để chiếm đoạt số tiền 33.000.000 đồng của N, mục đích tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm một cách trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tích cực tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Bùi Thị N, bị cáo Lê Thị G, anh Lê Đình S (em trai bị cáo) đại diện cho bị cáo đã tự nguyện thống nhất, thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho chị Bùi Thị N số tiền 112.380.000 đồng, trong đó bao gồm số tiền bị cáo chiếm đoạt trái phép của bị hại là 33.000.000 đồng, số tiền thiệt hại về tài sản là 79.380.000 đồng. Anh Lê Đình S đã thực hiện bồi thường thay cho bị cáo số tiền 33.000.000 đồng. Còn lại 79.380.000 đồng bị cáo Lê Thị G phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho bị hại Bùi Thị N.

Anh Lê Đình S không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền 33.000.000 đồng anh S đã sử dụng để bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo. Xét sự thỏa thuận bồi thường, trách nhiệm bồi thường là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 584, 586, 589 Bộ luật Dân sự do đó cần ghi nhận.

[6] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 cuốn sổ tập dòng kẻ ngang, kích thước 135x195mm bìa màu hồng, nhãn hiệu HAITIEN do Sầm Văn Q giao nộp, bên trong có nội dung ghi chép chi tiêu các loại khoản tiền. Xét thấy đây là vật có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án nên cần lưu trữ trong hồ sơ vụ án theo Điều 89, 90 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Thị Ngọc N1, Lê Việt H1 khi thực hiện việc nhận tiền và chuyển tiền cho Lê Thị G không biết số tiền đó do G thực hiện hành vi phạm tội mà có nên không đề cập đến việc xử lý.

Đối với Sầm Văn N2, Sầm Văn Q là những người ở cùng phòng trọ với Lê Thị G, việc sinh hoạt chung của cả ba gồm tiền điện nước, ăn uống, phòng trọ sẽ được ghi vào sổ và chia nhau chi tiêu hằng ngày chung cho cả ba người. Năm và Q không biết số tiền G sử dụng chi tiêu hàng ngày do G thực hiện hành vi phạm tội mà có nên không đề cập đến việc xử lý.

Đối với Hà Thị T1 là người đã giới thiệu G đến mua mận của N, việc G chiếm đoạt số tiền 33.000.000 đồng của N, T1 không biết và không liên quan nên không đề cập đến việc xử lý.

Đối với người đàn ông tên L1 đặt mua mận với Lê Thị G như G trình bày. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh.

[8] Về án phí:

Đối với án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Đối với án phí dân sự sơ thẩm: Trước khi mở phiên tòa, bị hại Bùi Thị N, bị cáo Lê Thị G, anh Lê Đình S (em trai của bị cáo) đại diện cho bị cáo đã tự nguyện thống nhất, thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại với mức bồi thường là 112.380.000 đồng và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại. Do đó, bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 21, điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Lê Thị G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Lê Thị G 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04/9/2025.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự:

    Ghi nhận việc bị hại Bùi Thị N, bị cáo Lê Thị G, anh Lê Đình S (em trai bị cáo Lê Thị G) đại diện cho bị cáo đã tự nguyện thống nhất, thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho chị Bùi Thị N số tiền 112.380.000 đồng (Một trăm mười hai triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng), trong đó bao gồm số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng), số tiền thiệt hại về tài sản là 79.380.000 đồng (Bảy mươi chín triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng). Anh Lê Đình S đã bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo số tiền 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng) cho bị hại Bùi Thị N. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho bị hại Bùi Thị N số tiền còn lại là 79.380.000 đồng (Bảy mươi chín triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng).

    Ghi nhận việc anh Lê Đình S không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng) anh S đã sử dụng để bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo.

    Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

  3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 89, 90 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 cuốn sổ tập dòng kẻ ngang, kích thước 135x195mm bìa màu hồng, nhãn hiệu HAITIEN do Sầm Văn Q giao nộp, bên trong có nội dung ghi chép chi tiêu các loại khoản tiền.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1, 3 Điều 21, điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Lê Thị G phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

    Bị cáo Lê Thị G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2025).

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền: thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND khu vực 6 - Sơn La;
  • - Phòng THADS khu vực 6 - Sơn La;
  • - Trại giam;
  • - THA HS;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 80/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị G lừa đảo chiếm đoạt 33.000.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger