TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG Bản án số: 80/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/12/2025 V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thùy Liễu; Bà Bùi Thị Vân.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 307/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T sinh năm 1990, Hộ chiếu số: C9976791 do Cục X cấp ngày 19/01/2022; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Đội 8 thôn N, xã H, TP Hải Phòng; Nơi cư trú hiện nay: Tầng B, số A, ngõ A, hẻm I, đường Đ, khu T, thành phố T, Đài Loan. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của chị T về con chung, tài sản chung, nhận văn bản thông báo của Tòa án: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1999 và anh Đào Dương P, sinh năm 2002; Địa chỉ: I T, phường Y, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức K, sinh năm 1984; Địa chỉ: Đ thôn N, xã H, TP Hải Phòng. Số CMTND: [...].(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958; Địa chỉ: Đ, thôn N, xã H, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị T, người đại diện theo ủy quyền của chị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đức K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương (Nay là xã H, thành phố Hải Phòng) vào ngày 31/7/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có sự thông cảm, thấu hiểu lẫn nhau. Tháng 4 năm 2022 chị xuất cảnh đi lao động tại Đài Loan, do khoảng cách địa lý, công việc bận rộn khiến chị và anh K không có nhiều thời gian để liên lạc, từ đó giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, tình cảm vợ chồng phai nhạt. Chị và anh K cũng đã nhiều lần tìm cách nói chuyện, hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Đến thời điểm hiện nay vợ chồng không còn liên lạc với nhau, mỗi người có công việc riêng, không quan tâm chia sẻ với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K.
Về quan hệ con chung: Chị T xác định chị và anh K có 03 con chung là Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 10/11/2010; Nguyễn Đức K1, sinh ngày 20/01/2014 và Nguyễn Khánh L1, sinh ngày 22/7/2016. Hiện nay cả 03 con đang ở với anh K. Do hiện nay chị đang đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan nên chị T để anh K nuôi cả 03 con và sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh K số tiền 2.000.000đ/tháng/01 con.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh K trình bày:
Về thời gian, điều kiện kết hôn như chị T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị T đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan gọi điện về nói vợ chồng không thể chung sống được với nhau và bảo anh làm đơn xin ly hôn. Anh có hỏi lý do thì chị T nói anh không quan tâm đến chị T, sống không có tình cảm, anh cũng khuyên bảo chị T nghĩ đến con hai vợ chồng cùng cố gắng làm ăn để xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng chị T không nghe. Sau đó chị T không nhắn tin, gọi điện gì cho anh. Từ khoảng tháng 10 năm 2022 đến nay vợ chồng không liên lạc với nhau, anh cũng không gọi điện hỏi thăm chị T. Nay chị T xin ly hôn, anh K đồng ý.
Về quan hệ con chung: Anh và chị T có 03 con chung là Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 10/11/2010; Nguyễn Đức K1, sinh ngày 20/01/2014 và Nguyễn Khánh L1, sinh ngày 22/7/2016. Hiện nay cả 03 con đang ở với anh. Anh xin nhận nuôi cả 03 con và đồng ý với mức cấp dưỡng chị T đưa ra là 2.000.000đ/tháng/con.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh K không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của mẹ đẻ anh K là bà L trình bày: Về điều kiện và thời gian kết hôn của anh K, chị T như anh T trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị T đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan, hai tháng đầu sau khi đi chị T vẫn liên lạc về với anh K nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị T nhắn tin cho anh K bảo anh K làm đơn xin ly hôn với lý do không còn tình cảm vợ chồng. Từ khoảng tháng 10/2022 đến nay vợ chồng không liên lạc với nhau. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh K là cha mẹ bà không muốn vợ chồng anh chị ly hôn, còn việc ly hôn hay về ở với nhau tùy vào quyết định của anh chị. Vợ chồng chị T, anh K có 03 con chung là Nguyễn Thị Hải Y, Nguyễn Đức K1 và Nguyễn Khánh L1. Hiện nay cả 03 con đang ở cùng anh K, bà đề nghị Tòa án giải quyết con chung theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Vợ chồng chị T, anh K không có tài sản chung. Về nợ: Bà có nghe nói vợ chồng anh chị có vay nợ cụ thể thế nào bà không biết.
Tại biên bản xác minh ông Nguyễn Mạnh T1 (trưởng thôn N) cung cấp: Chị T, anh K kết hôn với nhau vào năm 2009 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 chị T đi nước ngoài làm ăn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thế nào thôn không nắm được. Nay chị T xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82, 83, 116,117 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, 229, Điều 273, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T ly hôn anh Nguyễn Đức K; Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Đức K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 10/11/2010; Nguyễn Đức K1, sinh ngày 20/01/2014 và Nguyễn Khánh L1, sinh ngày 22/7/2016. Chị T có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh K số tiền 2.000.000đ/tháng/con kể từ tháng 12 năm 2025 đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chị T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình: Không giải quyết; Về án phí: chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Nguyễn Đức K đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn N, xã T (nay là xã H, thành phố Hải Phòng) nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND khu vực 8 – Hải Phòng.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị T, bị đơn anh K vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt; Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, đã có lời khai trực tiếp với Tòa án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng theo khoản 1 Điều 228 và khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Đức K tự nguyện tìm hiểu, kết hôn với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là xã H, thành phố Hải Phòng) là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị T đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan, vợ chồng xa cách về địa lý dẫn đến không quan tâm, chia sẻ được với nhau về mọi mặt của cuộc sống. Từ khoảng tháng 10 năm 2022 đến nay vợ chồng chị T, anh K không liên lạc với nhau, mỗi người đều có công việc, cuộc sống riêng. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trong thời gian dài nhưng cả hai đều không có biện pháp khắc phục. Chị T xin ly hôn, anh K đồng ý. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T, anh K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị T ly hôn anh K là phù hợp quy định pháp luật để hai bên ổn định cuộc sống.
[2.2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị T, anh K có 03 con chung là Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 10/11/2010; Nguyễn Đức K1, sinh ngày 20/01/2014 và Nguyễn Khánh L1, sinh ngày 22/7/2016. Do chị T hiện đi lao động tại nước ngoài nên có nguyện vọng để anh K nuôi dưỡng cả 03 con và sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh K là 2.000.000đ/tháng/con. Anh K đồng ý với quan điểm của chị T.
Xét thấy: Cháu Nguyễn Thị Hải Y, Nguyễn Đức K1, Nguyễn Khánh L1 đều đã trên 7 tuổi và có quan điểm xin ở với bố. Anh K hiện nay cũng đi làm công ty có thu nhập và có chỗ ở ổn định. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 10/11/2010; Nguyễn Đức K1, sinh ngày 20/01/2014 và Nguyễn Khánh L1, sinh ngày 22/7/2016 cho anh K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T phải có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh K số tiền 2.000.000đ/tháng/con đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp cho gia đình hai bên gia đình: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Sau này các đương sự có tranh chấp về tài sản, nợ chung sau khi ly hôn có quyền khởi kiện vụ án khác.
[2.4]. Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và phải chịu án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 và 116,117 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 229, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T, xử cho chị Phạm Thị T ly hôn anh Nguyễn Đức K.
- Về quan hệ con chung: Giao cho anh Nguyễn Đức K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 10/11/2010; Nguyễn Đức K1, sinh ngày 20/01/2014 và Nguyễn Khánh L1, sinh ngày 22/7/2016, sinh ngày 25/4/2021. Chị Phạm Thị T có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh K số tiền 2.000.000đ/ tháng/con (tổng số tiền chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho anh K là 6.000.000đ (sáu triệu đồng)/ tháng), thời gian kể từ tháng 12 năm 2025 cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Buộc chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình và 300.000đ án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003494 ngày 10/10/2025 tại thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị T còn phải nộp 300.000đ tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh Nguyễn Đức K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu |
Bản án số 80/2025/HNGĐ-ST ngày 25/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 80/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trang xin ly hôn anh Khanh
