|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 79/2026/DS-PT Ngày: 20-01-2026 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Huỳnh Thị Hồng Vân, ông Đinh Tiền Phương
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 636/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2025/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1025/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Vũ Xuân B, sinh năm 1952;
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1952;
Cùng cư trú tại: Số C Tổ F, Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh (địa chỉ cũ: Tổ F, Ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh).
Người đại diện theo ủy quyền của ông B và bà H: bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh (địa chỉ cũ: Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (văn bản ủy quyền ngày 20/8/2024-BL12).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Vũ Xuân B: ông Nguyễn Văn T, Luật sư của Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B.
- Bị đơn: ông Nguyễn Tuấn P, sinh năm 1983; cư trú tại: Tổ A, Ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh (địa chỉ cũ: Tổ A, Ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Bà Vũ Thị H2, sinh năm 1986;
- 2. Ông Nguyễn Đình H3, sinh năm 1985;
- 3. Bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1971;
- 4. Bà Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm 1973;
- 5. Bà Nguyễn Thị Thúy H4, sinh năm 1976;
- 6. Ông Nguyễn Trường N, sinh năm 1979;
- 7. Ông Nguyễn Tuấn L1, sinh năm 1981;
- 8. Ông Ngô Quốc V1, sinh năm 1961;
- 9. Bà Lê Thị M, sinh năm 1962;
- 10. Ông Lý Thành S, sinh năm 1964;
- 11. Ông Đào Văn T1, sinh năm 1984;
- 12. Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1953.
- Người kháng cáo: nguyên đơn, ông Vũ Xuân B và bà Nguyễn Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 25/11/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 21/5/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Vũ Xuân B, bà Nguyễn Thị H và người đại diện theo ủy quyền của ông B, bà H là bà Nguyễn Thị H1 thống nhất trình bày:
Vào năm 2006, ông Bầu và bà H có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Quốc V2 và bà Lê Thị M 01 phần đất chiều ngang 5m x dài khoảng 50m, thuộc thửa đất số 59. Đến năm 2007, ông Bầu và bà H được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) thửa đất số 836 tờ bản đồ số 07, diện tích 150m2 (đã trừ lộ giới) loại đất ở nông thôn, đất tọa lạc tại Ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay xã T, tỉnh Tây Ninh).
Năm 2013, Nhà nước cấp đổi lại GCNQSDĐ qua hệ thống bản đồ chính quy, thửa 836 có số thửa mới số 81 tờ bản đồ số 113. Tuy nhiên, do không đo hết thửa đất số 81 nên diện tích đất chỉ còn lại 103,8m2, ông B, bà H không hiểu biết nên khi nhận GCNQSDĐ không xem lại diện tích đất bị thiếu. Hiện nay, ông Bầu, bà H cho bà Vũ Thị H2 và ông Nguyễn Đình H3 quản lý sử dụng, quá trình sử dụng không biết diện tích trong sổ đỏ được cấp là bao nhiêu.
Ông Bầu, bà H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Tuấn P trả lại phần đất diện tích 158m2 (diện tích sau khi đo đạc hiện trạng), thuộc một phần thửa 59 tờ bản đồ số 113, đất tọa lạc tại Ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Đất có tứ cận: hướng Đông giáp đất ông P, hướng Tây giáp đất ông D1, hướng Nam giáp đất ông Bầu, bà H và hướng Bắc giáp đất ông B1.
Bị đơn, ông Nguyễn Tuấn P trình bày như sau: vào năm 2022, ông được mẹ và các anh chị em trong gia đình ký kết việc thỏa thuận phân chia thừa kế cho ông phần đất có diện tích 1.104,1m2 thuộc thửa đất số 59 tờ bản đồ số 113. Nguồn gốc phần đất này là do cha mẹ ông là cụ Nguyễn Văn L2 và cụ Nguyễn Thị C khai hoang diện tích 119m2 (năm 1989) và mua của ông Nguyễn Văn B2 diện tích khoảng 9.884m2 vào năm 1993. Do đó, ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bầu, bà H.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2025/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11-Tây Ninh đã xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Xuân B, bà Nguyễn Thị H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Nguyễn Tuấn P phần đất diện tích 158m2, thuộc một phần thửa 59, tờ bản đồ số 113.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của ông Vũ Xuân B và bà Nguyễn Thị H thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[5.1] Về nguồn gốc đất: năm 2014, ông B, bà H có khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Lý Thành S, bà Nguyễn Thị Thúy H4. Tranh chấp này đã được giải quyết tại Bản án dân sự phúc thẩm số 78/2015/DS-PT, ngày 25/3/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Bản án đang có hiệu lực pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.
[6] Tại đoạn [2] phần nhận định của bản án sơ thẩm đã đánh giá toàn bộ quá trình chuyển nhượng, quản lý, sử dụng và kê khai đăng ký quyền sử dụng đất của ông Bầu, bà H đối với phần đất đã nhận chuyển nhượng từ ông V2 và phần đất đang tranh chấp, từ đó, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bầu và bà H, là phù hợp với diễn biến khách quan của sự việc và hoàn toàn có căn cứ, theo quy định tại Điều 137 và Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Bầu, bà H.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Vũ Xuân B và bà Nguyễn Thị H.
3. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2025/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11-Tây Ninh.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Vũ Xuân B và bà Nguyễn Thị H được miễn án phí phúc thẩm.
5. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Ngọc Hoàng Đình Thục |
Bản án số 79/2026/DS-PT ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 79/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Xuân B, Nguyễn Thị H “Tranh chấp quyền sử dụng đất” Nguyễn Tuấn P
