Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG


Bản án số: 79/2025/HSST
Ngày: 23/12/2025
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

                              

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền Trân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận
                                                Bà Lê Thị Nhớ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Lân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức H; Giới tính: Nam; Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1998, tại: TP .; Nơi cư trú: P, khu G chung cư Đ, phường S, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông: Nguyễn Đức M (Sinh năm 1971, còn sống) và bà Mai Thị Thanh T (Sinh năm 1975, còn sống);

Tiền án: Ngày 17/3/2023 bị Toà phúc thẩm Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BA số 45/2023/HSPT), chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 23/3/2025 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 375 ngày 23/3/2025).

Tiền sự: Chưa

Nhân thân: Công an phường T đã ban hành Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Đức H số 380/QĐ ngày 10/10/2025 về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/8/2025, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  • + Em Quách Thành N; sinh ngày: 12/10/2009. Địa chỉ: Tổ B, phường A, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện hợp pháp của N: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 2006. Địa chỉ: Tổ B, phường A, thành phố Đà Nẵng (Đều vắng mặt).
  • + Ông Trần Quang V; sinh năm: 2003. Địa chỉ: K N, phường S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thùy D, sinh năm: 2006. Địa chỉ: A N, TP Đà Nẵng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 01/8/2025, Nguyễn Đức H điều khiển xe máy BKS 43AA-323.17 (xe của H) chở Quách Thành N đến trước quán K, số H T, phường T, thành phố Đà Nẵng. Khi N vừa xuống xe, H nói dối là không vào nhà bạn được và hỏi mượn điện thoại của N; N tin tưởng nên giao điện thoại Samsung A23 cho H. Sau khi lấy được điện thoại, H tiếp tục nói dối là đi vào nhà bạn lấy đồ, khoảng 10 đến 15 phút sẽ quay lại, rồi điều khiển xe máy BKS 43AA-323.17 đi men theo một con kiệt bên cạnh quán K, ra lại đường T và tẩu thoát. Sau đó, H đến quán game tại số A L, thành phố Đà Nẵng và mở cốp xe máy BKS 43AA-323.17 thì ra phát hiện có 01 giấy đăng ký xe máy BKS 43AA-323.17. Thông qua mạng xã hội Facebook, H liên hệ và mang xe máy BKS 43AA-323.17 đến K T, thành phố Đà Nẵng bán cho 01 người người đàn ông với số tiền 4.500.000 đồng. Số tiền có được, H tiêu xài cá nhân còn lại: 2.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đức H còn tự thú hành vi trộm cắp tài sản tại 6 P, phường T, thành phố Đà Nẵng, cụ thể như sau: Vào khoảng 10 giờ ngày 29/07/2025, H đi bộ đến quán I tại 6 P, phường T, thành phố Đà Nẵng chơi internet. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày thì H ra về, khi ra H thấy trên sân có xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 43E1-594.73 màu đỏ đen do anh Trần Quang V làm chủ sở hữu và có sẵn chìa khoá trên xe. Sau khi quan sát thấy không có người trông coi nên Nguyễn Đức H đã đến lấy trộm xe trên. Đến 23 giờ cùng ngày, thông qua mạng internet, H1 liên hệ và mang xe trên đến ngã ba đường lên chùa L1, phường S, thành phố Đà Nẵng bán cho người đàn ông với giá 1.500.000 đồng. H1 tiêu xài cá nhân hết. Tài sản không thu hồi được. Đối với Trần Quang V sau khi mất xe, do bận việc nên V không báo Cơ quan chức năng. Sau khi, Nguyễn Đức H tự thú việc trộm cắp xe nêu trên thì Trần Quang V mới báo sự việc nêu trên với Công an phường T, thành phố Đà Nẵng.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa hôm nay giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Đức H và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • + Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s, r, t khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
  • + Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
  • + Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo H.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền: 2.500.000đ
  • - Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề cập đến. Ngoài ra, còn đề xuất xử lý về tiền án phí.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt dành cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình tranh luận tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 29/7/2025 và ngày 01/8/2025, trên địa bàn phường T, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Đức H đã thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản và 01 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản cụ thể như sau:

Vào ngày 29/7/2025 tại quán I tại 6 P, phường T, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Đức H đã lén lút trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 43E1-594.73 có trị giá 11.500.000 đồng (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng) của ông Trần Quang V

Đến ngày 01/8/2025, tại trước quán K, số H T, phường T, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Đức H đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối để Quách Thành N tin tưởng giao xe máy nhãn hiệu Sadoka, loại vesspai 5A BKS 43AA-323.17 có trị giá 15.550.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A23 có trị giá 977.000 đồng (Chín trăm bảy mươi bảy nghìn đồng) cho bị cáo H, để bị cáo chiếm đoạt. Tổng số tiền mà bị cáo H chiếm đoạt là 16.527.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

* Theo các Kết luận định giá số 36/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2025 và số 257/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng xác định: Điện thoại di động hiệu Samsung, loại A23 màu đen trên có trị giá tại thời điểm ngày 01/8/2025 là 977.000 đồng; Xe máy nhãn hiệu Sadoka, loại vesspai 5A, màu xanh – đen nêu trên có trị giá tại thời điểm ngày 01/8/2025 là 15.550.000 đồng, tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là: 16.527.000 đồng. Xe mô tô hiệu Honda loại Wave màu đỏ đen bạc, BKS: 43E1-594.73, số máy JA39E2001904, số khung: 3929LY001841 vào ngày 29/7/2025 có trị giá 11.500.000 đồng.

Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án và hành vi vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật đều bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài và có tài sản để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của bản thân, bị cáo H đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của ông Trần Quang V nên đã lén lút trộm cắp tài sản của ông V. Bị cáo H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi vẫn cố ý thực hiện, bị cáo đã lợi dụng việc người bị hại Quách Thành N là người dưới 16 tuổi, nhận thức và sự cảnh giác còn hạn chế nên cố tình đưa ra thông tin gian dối để N tin tưởng giao xe máy nhãn hiệu Sadoka, loại vesspai 5A và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A23 cho bị cáo nhằm chiếm đoạt tài sản của N. Xét về động cơ mục đích phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội chỉ mang tích chất tức thời, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người bị hại trong việc quản lý tài sản và lòng tin nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người dân được pháp luật bảo vệ; bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo thì mới có đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy:

[4.1] Về những tình tiết tăng nặng:
+ Đối với tội “Trộm cắp tài sản”: Bị cáo Nguyễn Đức H có 01 tiền án chưa được xoá án tích và tiếp tục trộm cắp tài sản nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xem xét áp dụng hình phạt cho bị cáo.
+ Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”: Bị cáo Nguyễn Đức H có 01 tiền án chưa được xoá án tích và tiếp tục lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Quách Thành N trong khi N mới 15 tuổi 9 tháng 19 ngày nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm và phạm tội đối với người dưới 16 tuổi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng theo điểm h, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xem xét áp dụng hình phạt cho bị cáo.

[4.2] Về những tình tiết giảm nhẹ:
+ Đối với tội “Trộm cắp tài sản”: Bị cáo Nguyễn Đức H thành khẩn khai báo và đã tác động gia đình bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả; đồng thời bị cáo H đã tự thú hành vi phạm tội mà cơ quan chức năng chưa phát hiện nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng hình phạt cho bị cáo.
+ Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”: Bị cáo Nguyễn Đức H thành khẩn khai báo và đã tác động gia đình bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng hình phạt cho bị cáo.

+ Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Đức H tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, cụ thể: hỗ trợ xác định địa điểm gây án, địa điểm trao đổi, mua bán tài sản do phạm tội mà có; tự nguyện giao nộp các tài sản thu được từ hành vi vi phạm tội; qua đó giúp cơ quan tiến hành tố tụng kịp thời phát hiện, chứng minh tội phạm và giải quyết vụ án nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án” nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét áp dụng hình phạt cho bị cáo đối với tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Đức H đã tác động gia đình bồi thường cho Quách Thành N số tiền 15.000.000đ, bồi thường Trần Quang V số tiền 10.000.000đ. Quách Thành N, ông Trần Quang V và bà Nguyễn Thị L không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG A23, màu đen, IMEI: 353220820613476, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Thị L là có cơ sở.
- 03 đĩa (CD và DVD) lưu trữ các tập tin video liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức H lưu cùng hồ sơ vụ án.
- Đối với số tiền 2.500.000đ liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo H nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Về vấn đề khác:
- Đối với Nguyễn Đức H có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tuy nhiên không thuộc các trường hợp cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ ra Quyết định xử phạt hành chính đối với H bằng hình thức phạt tiền là có cơ sở.
- Đối với những người mua xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 43E1-594.73 và xe máy nhãn hiệu Sadoka, loại vesspai 5A BKS 43AA-323.17 do chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiếp tục điều tra là rõ xử lý sau.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, r, s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H 01 (một) năm tù.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s, t khoản 1 Điều 51; điểm h, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

3. Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt chung của tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chấp hành hình phạt là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/8/2025.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên xử:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002662 ngày 28/11/2025 tại Thi hành án dân sự TP Đà Nẵng.

5. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:
  • - Viện KSND khu vực 3 – Đà Nẵng ;
  • - Thi hành án dân sự TP. Đà Nẵng;
  • - Viện KSND TP Đà Nẵng;
  • - TAND TP Đà Nẵng;
  • - VP CQCSĐT Công an thành phố Đà Nẵng;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự CA -TP Đà Nẵng ;
  • - Phòng HSNV CA - TP Đà Nẵng (PV 06)
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND các phường
  • - Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa





Lê Bảo Huyền Trân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HSST ngày 23/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng về trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 79/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong các ngày 29/7/2025 và ngày 01/8/2025, trên địa bàn phường T, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Đức H đã thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản và 01 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản cụ thể như sau: Vào ngày 29/7/2025 tại quán I tại 6 P, phường T, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Đức H đã lén lút trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 43E1-594.73 có trị giá 11.500.000 đồng (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng) của ông Trần Quang V Đến ngày 01/8/2025, tại trước quán K, số H T, phường T, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Đức H đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối để Quách Thành N tin tưởng giao xe máy nhãn hiệu Sadoka, loại vesspai 5A BKS 43AA-323.17 có trị giá 15.550.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A23 có trị giá 977.000 đồng (Chín trăm bảy mươi bảy nghìn đồng) cho bị cáo H, để bị cáo chiếm đoạt. Tổng số tiền mà bị cáo H chiếm đoạt là 16.527.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm hai mươi bảy nghìn đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger