|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 785/2024/HS-PT
Ngày: 30 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười
Ông Hoàng Minh Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 và 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 564/2024/TLPT- HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 243/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đặng Thanh T (tên gọi khác: C), sinh năm 1998 tại tỉnh Tây Ninh; nơi thường trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Quản lý nhà hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Đặng Thị Kim H; hoàn cảnh gia đình: Chưa có chồng, có 01 con (sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 24/7/2023 đến ngày 02/8/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại, có mặt ngày 26, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 30.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Đình T2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (Có mặt ngày 26, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 30)
Ngoài ra còn có bị cáo khác và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 58 phút, ngày 19/7/2023, Phòng C2 Công an Thành phố H phối hợp cùng Công an P, Quận E kiểm tra khách sạn B số H T, Phường G, Quận E, phát hiện tại phòng 203 Lưu Văn H1 và Sơn Thị M; phòng 505 Phùng Văn V và Huỳnh Thị Ánh L; phòng 507 Lê Văn Giào E và Bùi Thị Thu T3; phòng 807 Đoàn Xuân C1 và Lê Phương T4 đang thực hiện hành vi mua bán dâm với nhau.
Qua điều tra, xác minh ngày 24/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Ngọc Á, Đoàn Thị T5, Nguyễn Đặng Thanh T về hành vi “Môi giới mại dâm”.
Tại Cơ quan điều tra Công an Thành phố H, Nguyễn Thị Ngọc Á, Đoàn Thị T5, Nguyễn Đặng Thanh T khai nhận:
Nhà hàng S KTV, số I A, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Vũ Quốc T6 là người đại diện theo pháp luật, hoạt động trong lĩnh vực ăn uống. Ông T6 thỏa thuận để Nguyễn Thị Ngọc Á quản lý, điều hành mọi hoạt động kinh doanh của nhà hàng và hưởng 45% số tiền trên hóa đơn thanh toán của khách hàng, Á chia lại cho nhân viên quản lý phòng 10% số tiền trên hóa đơn khách thanh toán.
Ánh trực tiếp tuyển chọn, quản lý các nhân viên quản lý phòng và tiếp viên của nhà hàng. Để tăng doanh thu, Á cho phép các nhân viên quản lý phòng cho các tiếp viên nữ của nhà hàng ra ngoài bán dâm cho khách sau 23 giờ hàng ngày, giá tiền bán dâm do nữ tiếp viên và khách tự thỏa thuận nhưng thường từ khoảng 3.500.000 đến 6.000.000 đồng/01 lần bán dâm tùy theo bán dâm 01 lần, nhiều lần hay qua đêm. Tiền mua dâm khách trả tiền, chuyển khoản hay đưa trực tiếp cho tiếp viên bán dâm hoặc qua nhân viên quản lý phòng, tiền này tiếp viên hưởng, chủ nhà hàng, quản lý, nhân viên quản lý phòng không hưởng. Ảnh thông báo trên nhóm zalo “Người đẹp” tiếp viên phải đeo vòng bằng nhựa để phân biệt, trong đó vòng màu hồng không đi bán dâm, vòng màu đen bán dâm về liền, vòng màu trắng bán dâm qua đêm. Đến ngày 19/7/2023, Á giao cho Võ Văn M1 và Nguyễn Công D lập ký hiệu ghi vào sổ, thể hiện số 1 đi bán dâm về liền, số 2 đi bán dâm qua đêm và dấu (x) không đi bán dâm.
Đoàn Thị T5 và Nguyễn Đặng Thanh T vào làm việc tại nhà hàng từ khoảng tháng 6/2023, là nhân viên quản lý phòng của nhà hàng, do Á trực tiếp tuyến chọn, làm việc dưới sự quản lý của Á. T5 và T biết Á có chủ trương cho tiếp viên nữ trong nhà hàng đi bán dâm để thu hút khách, tăng doanh thu cho nhà hàng.
Khoảng 18 giờ ngày 19/7/2023, Phùng Văn V, Lê Văn Giào E, Đoàn Xuân C1 đến nhà hàng, vào phòng 206 ăn uống, ca hát với các tiếp viên Bùi Thị Thu T3, Huỳnh Thị Ánh L, Lê Phương T4, các tiếp viên và phòng trên do Đoàn Thị T5 quản lý.
Lúc sau, có người tên H2 (chưa rõ lai lịch) là người quen rủ nhóm V lên phòng 501 chơi chung thì V đồng ý và cùng các tiếp viên trên lên phòng 501. Khi nhóm V lên phòng 501, do Nguyễn Đặng Thanh T là nhân viên quản lý phòng. Tại phòng này có Lưu Văn H1 đang ngồi cũng tiếp viên Sơn Thị M và H2, T7 và một số người khác (chưa rõ lai lịch).
Sau đó, Phùng Văn V nói V, E và C1 muốn mua dâm với 03 tiếp viên Thu T3, L, T4 thì Đoàn Thị T5 đồng ý. Em tính tiền phòng 206 và đưa 12.500.000 đồng cho T5, trong đó tiền ăn uống phòng 206 là 7.000.000 đồng, tiền mua dâm của Em với tiếp viên Thu T3 là 3.500.000 đồng, cho 02 nhân viên phục vụ mỗi người 1.000.000 đồng. V đưa cho T3 số tiền 5.000.000 đồng, trong đó 4.500.000 đồng tiền mua dâm với L, 500.000 đồng cho T3. Cảnh chuyển khoản đến tài khoản số 0791000009391 của T3 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền 5.000.000 đồng, trong đó 4.500.000 đồng tiền mua dâm với tiếp viên Trân, 500.000 đồng cho T3.
Riêng Lưu Văn H1 nói với T muốn mua dâm tiếp viên Sơn Thị M do T quản lý thì T đồng ý nên H1 chuyển số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản số 1686686688 của T mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, trong đó 4.500.000 là tiền mua dâm và 500.000 đồng cho T.
Khi V, C1, E, H1 cùng Bùi Thị Thu T3, Huỳnh Thị Ánh L, Lê Phương T4, Sơn Thị M đến khách sạn B để mua bán dâm thì bị Công an kiểm tra phát hiện.
Lời khai của Nguyễn Thị Ngọc Á, Đoàn Thị T5 và Nguyễn Đặng Thanh T phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 243/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T 01 (một) năm tù về tội “Môi giới mại dâm”; Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án được khấu trừ cho thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2023 đến ngày 02/8/2023.
Ngoài ra, bản án còn tuyên tội danh, hình phạt cho các bị cáo khác; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.
Ngày 03/6/2024, bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
-
Phần xét hỏi:
Bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T có người bào chữa giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là mẹ đơn thân đang nuôi con nhỏ, hiện bị cáo còn đang mang thai sắp sinh; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.
-
Phần tranh luận
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cho bị cáo, nên hình phạt đối với bị cáo T là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
- Tại cấp phúc thẩm bị cáo T xuất trình tài liệu mới là giấy chứng nhận bị cáo đang mang thai 25 tuần tuổi có xác nhận của bệnh viện Đại học Y dược Thành phố H. Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và không thuộc trường hợp cấm cho hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
- Phần bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo vì bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T thực hiện việc kháng cáo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
-
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
- [2.1] Nhà hàng S, số I A, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh do bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á làm quản lý, điều hành. Để tăng doanh thu cho nhà hàng, bị cáo Á đã chỉ đạo, cho phép hoạt động mua bán dâm tại Nhà hàng. Trong đó, bị cáo Đoàn Thị T5, Nguyễn Đặng Thanh T là nhân viên quản lý phòng, trực tiếp quản lý phòng và cho phép nhân viên nhà hàng đi bán dâm. Vào ngày 19/7/2023, bị cáo T5 đồng ý cho Huỳnh Thị Ánh L, Bùi Thị Thu T3, Lê Phương T4 bán dâm cho Phùng Văn V, Lê Văn G Em, Đoàn Xuân C1, còn bị cáo T đồng ý cho Sơn Thị M bán dâm cho Lưu Văn H1.
-
- [2.2] Các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Đoàn Thị T5, Nguyễn Đặng Thanh T là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được việc môi giới mại dâm là vi phạm pháp luật, gây tác động tiêu cực đến nếp sống văn minh, hủy hoại nhân cách con người, gây mất trật tự xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, có nguy cơ làm lây truyền nhiều bệnh xã hội nguy hiểm, nhưng vẫn cố tình thực hiện.
- [2.3] Với hành vi nêu tại mục [2.1] và nhận định tại mục [2.2], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Đoàn Thị T5 phạm tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự, bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T phạm tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
-
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T
- [3.1] Đây là vụ án có đồng phạm, trong đó bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á là người quản lý, điều hành, đưa ra chủ trương và đồng ý cho hoạt động môi giới mại dâm. Bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T phạm tội với vai trò thấp hơn bị cáo Á.
- Bị cáo T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét vai trò của bị cáo, xét các tình tiết nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo T, xử phạt bị cáo T 01 (một) năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo thực hiện.
- [3.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cung cấp được tình tiết, chứng cứ mới bị cáo đang mang thai đã có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo T có hơn 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Từ những nhận định trên, căn cứ theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T có nơi cư trú rõ ràng và không thuộc trường hợp cấm cho hưởng án treo nên áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo T hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo T và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Ấn định thời gian thử thách tương ứng với bị cáo T, giao Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo T cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, đồng thời bị cáo T phải thực hiện đúng nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo T.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T không phải chịu theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 243/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Môi giới mại dâm”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 30/8/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
(Đã giải thích chế định án treo)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Phạm Công Mười Hoàng Minh Thịnh |
Vũ Đức Toàn |
Bản án số 785/2024/HS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm về tội môi giới mại dâm
- Số bản án: 785/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đặng Thanh T. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 243/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
