|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2025/HS-ST Ngày 24-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hội và ông Đỗ Đình Bản.
- Thư ký phiên toà:
Ông Nguyễn Trọng Định - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà:
Bà Vì Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2025/TLST-HS ngày 26/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2025/QĐXXST-HS ngày 11/12/2025 đối với bị cáo:
Bùi Trung H, sinh ngày 25/11/1986 tại xã K, tỉnh Phú Thọ;
Nơi cư trú: Bản S, xã C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam: tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Bùi Văn T (đã chết) và bà Quách Thị P; bị cáo có vợ là Vì Thị Đ và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 261/2018/HS-ST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt Bùi Trung H 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/9/2025 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 50 phút ngày 10 tháng 9 năm 2025, tổ công tác Công an xã C, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại đường dân sinh thuộc bản S, xã C, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra đối với Bùi Trung H đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện H đang cất giấu trong túi quần bên trái phía trước đang mặc 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng 02 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu “WY”, nghi là ma túy loại Methamphetamine. H khai nhận đó là ma túy, loại Methamphetamine của Hiến mua để bản thân sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Bùi Trung H, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng có liên quan để điều tra xử lý.
Cùng ngày, Công an xã Chiềng Sơn, tỉnh Sơn La tiến hành test thử ma túy đối với Bùi Trung H cho kết quả âm tính với chất ma túy. Qua xác minh Bùi Trung H không thuộc diện nào theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Ngày 10/9/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành xác định khối lượng số viên nén màu hồng thu giữ của Bùi Trung H được 0,20 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu H.
Tại Kết luận giám định số: 1121/KL-KTHS ngày 15/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu H gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,20 gam, loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Quá trình điều tra Bùi Trung H khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 10/9/2025 H đi tìm mua ma túy sử dụng. Khi đang đi bộ một mình trên đường dân sinh thuộc bản S, xã C, tỉnh Sơn La, H gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi, không quen biết, qua trao đổi H đã hỏi và mua được của người đàn ông 01 gói ma túy bên trong đựng 02 viên hồng phiến với giá 40.000 đồng. H cất giấu gói ma túy vừa mua được vào trong túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng thì gặp tổ công tác Công an xã C, tỉnh Sơn La kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 67/CT- VKS ngày 25 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La đã truy tố bị can Bùi Trung H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Bùi Trung H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 BLHS.
- - Xử phạt: từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 10/9/2025.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng mảnh nilon màu xanh.
- - Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Trung H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác thu giữ có nguồn gốc của bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết với giá 40.000 đồng vào ngày 10/9/2025, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan điều tra.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bùi Trung H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 10/9/2025 bị cáo Bùi Trung H đã có hành vi tàng trữ 0,20 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự) quy định mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện chất ma túy và đã từng bị xét xử về tội phạm ma túy, tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục lún sâu vào con đường phạm tội.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có tài sản gì có giá trị, do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) phong bì ghi: "Vật chứng còn lại vụ: Bùi Trung H, bắt ngày 10/9/2025 (01 mảnh nilon màu xanh ban đầu)". Xét thấy, đây là vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Bùi Trung H như bị cáo khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Trung H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Bùi Trung H 03 (Ba) năm, 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 10/9/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) phong bì ghi: "Vật chứng còn lại vụ: Bùi Trung H, bắt ngày 10/9/2025 (01 mảnh nilon màu xanh ban đầu)".
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Hương |
Bản án số 76/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 76/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 03 năm 09 tháng tù
