Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2026/DS-PT

Ngày: 23-01-2026

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.

Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Phận;

Bà Phạm Thị Hồng Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Định - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 474/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2025/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 676/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 432/2025/QĐPT-DS ngày 23 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1965;

Địa chỉ: I, Khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường P, tỉnh Vĩnh Long).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Thanh G, sinh năm 1978; địa chỉ: G, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long). (Có mặt)

- Bị đơn:

+ Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1980; (Có mặt)

Địa chỉ thường trú: 29Đ, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường B, tỉnh Vĩnh Long).

Địa chỉ liên hệ: 179/1, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).

+ Ông Nguyễn Thanh M, sinh năm 1979; (Có mặt)

Địa chỉ thường trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp).

Địa chỉ liên hệ: 179/1, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).

- Người kháng cáo: Bà Huỳnh Thị N, là nguyên đơn; ông Nguyễn Thanh M, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm,

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị N và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Thanh G trình bày:

Bà Huỳnh Thị N và vợ chồng bà Đỗ Thị L, ông Nguyễn Thanh M có mối quan hệ bà con với nhau nên ngày 30/6/2022, vợ chồng bà L, ông M có mượn của bà N số tiền 600.000.000 đồng, do bà N không có tiền mặt mà chỉ có 02 quyền sử dụng đất để cho bà L mượn. Vì là chỗ thân tình nên bà N có đứng ra vay tiền tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần A – Chi nhánh tỉnh T để cho bà L, ông M vay lại, thời hạn vay là 120 tháng, mỗi tháng trả gốc là 5.000.000 đồng cùng tiền lãi hàng tháng theo hợp đồng cho vay từng lần số 6420/22/TD/CN/058 ngày 30/6/2022; vợ chồng bà L, ông M cam kết hàng tháng đóng lãi, gốc đầy đủ cho Ngân hàng. Thời gian đầu, vợ chồng bà L, ông M đóng lãi gốc đầy đủ nhưng thời gian sau này bà L đóng trễ hạn hoặc không đóng lãi.

Đến ngày 14/8/2024, vợ chồng bà L, ông M làm giấy xác nhận để chốt số tiền nợ và cam kết sẽ đóng lãi, gốc hàng tháng đầy đủ, đồng thời đến tháng 6/2025 sẽ trả hết nợ gốc. Tuy nhiên đến tháng 9/2024, bà L, ông M chỉ trả cho bà được 10.000.000 đồng tiền nợ gốc, trong khi nợ gốc và lãi phải trả cho Ngân hàng là 11.548.493 đồng. Như vậy, số tiền là L, ông M còn nợ bà N tiền gốc là 465.000.000 đồng, tiền lãi của tháng 9/2024 còn lại là 1.033.534 đồng. Do đó, bà N khởi kiện yêu cầu bà L và ông M trả các khoản như sau:

Số nợ gốc còn lại là 465.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi trên số nợ gốc 465.000.000 đồng với mức lãi suất là 14,8%/năm, thời gian tính lãi kể từ ngày 01/10/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm, thành tiền là 59.204.055 đồng; số tiền lãi còn nợ của tháng 9/2024 là 1.033.534 đồng.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Thanh M, bà Đỗ Thị L trình bày:

Theo giấy xác nhận ngày 14/8/2024 mà bà N cung cấp thì ông M, bà L thừa nhận đây là chữ ký của ông M, bà L, tuy nhiên ông bà không có nhận số tiền này mà đây là số tiền vợ chồng ông bà với bà N hùn vốn làm ăn. Do việc làm ăn với bà N không thuận lợi nên bà N kêu ông M, bà L viết giấy xác nhận ngày 14/8/2024 để làm niềm tin cho bà N chứ các bên không có quan hệ vay mượn tiền và ông bà không có nhận tiền số tiền 600.000.000 đồng của bà Huỳnh Thị N.

Trước ngày 14/8/2024 thì bà L, ông M có chuyển cho bà N nhiều khoản tiền theo các giấy chuyển tiền mà bị đơn cung cấp tại Tòa; ông M, bà L khẳng định sau ngày 14/8/2024 thì ông M, bà L có chuyển được cho nguyên đơn số tiền là 10.000.000 đồng; còn những số tiền mà bị đơn chuyển cho nguyên đơn đã được chuyển trước ngày 14/8/2024.

Nay ông M, bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì ông M, bà L không có mượn số tiền này của nguyên đơn mà giấy xác nhận ngày 14/8/2024 là việc các bên hùn hạp làm ăn; bị đơn yêu cầu khấu trừ các số tiền mà bị đơn đã chuyển cho nguyên đơn; không đồng ý với mức lãi suất là 14,8%/năm vì mức lãi suất cao hơn so với quy định, chỉ đồng ý mức lãi suất theo quy định của Nhà nước.

Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2025/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long đã tuyên:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 468 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N; cụ thể: buộc bị đơn bà Đỗ Thị L và ông Nguyễn Thanh M có trách nhiệm liên đới trả cho bà Huỳnh Thị N số tiền 506.204.367 (năm trăm lẻ sáu triệu, hai trăm

lẻ bốn nghìn, ba trăm sáu mươi bảy) đồng, trong đó nợ gốc 465.000.000 (bốn trăm sáu mươi lăm triệu) đồng, nợ lãi 41.204.367 (bốn mươi mốt triệu, hai trăm lẻ bốn nghìn, ba trăm sáu mươi bảy) đồng.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N đối với số tiền lãi 19.033.222 (mười chín triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, hai trăm hai mươi hai) đồng.

3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu về phần lãi suất quá hạn.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, tiền lãi chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự, quyền thi hành án của các đương sự.

Ngày 26/8/2025, ông Nguyễn Thanh M có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm.

Cùng ngày, bà Huỳnh Thị N có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Trần Thanh G trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn không đồng ý mức lãi suất 10%/năm như bản án sơ thẩm đã tuyên, do giấy xác nhận ngày 14/8/2024 có nội dung bị đơn đồng ý lo đóng lãi, gốc hàng tháng theo lãi suất Ngân hàng nên đề nghị Toà cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo mức lãi suất cho vay là 14,8%/năm trên số tiền nợ gốc 465.000.000 đồng. Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh M trình bày: Ông M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc huỷ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại. Bị đơn không có vay tiền, không có nhận tiền, không có sử dụng tiền của bà N mà người sử dụng tiền là ông Đinh Hoàng K. Ông không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Bị đơn bà Đỗ Thị L trình bày: Bà L không đồng ý yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Bà thống nhất với yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thanh M.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.

- Về nội dung: Căn cứ quy định khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N và bị đơn ông Nguyễn Thanh M; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N, bị đơn ông Nguyễn Thanh M cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn bà Huỳnh Thị N và bị đơn ông Nguyễn Thanh M có kháng cáo, đã thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] Tại phiên toà phúc thẩm, bà L cung cấp bản phô tô đoạn tin nhắn zalo với tài khoản tên D hoang khoa để chứng minh ông Đinh Hoàng K là người sử dụng số tiền vay từ bà N nên bà yêu cầu Toà án triệu tập ông K tham gia tố tụng trong vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn xác định không biết việc ông Đinh Hoàng K là người sử dụng số tiền vay từ bà N như bà L trình bày, nội dung giấy xác nhận ngày 14/8/2024 xác định bà L, ông M là người vay tiền bà N, tại phiên toà phía bị đơn cũng thừa nhận bà N giao số tiền vay cho ông M. Tại cấp sơ thẩm, phía bị đơn không yêu cầu triệu tập người tham gia tố tụng, ông M có lời trình bày xác định số tiền tranh chấp là tiền hùn hạp làm ăn giữa bà N với vợ chồng ông M, bà L. Từ các lập luận trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu triệu tập người tham gia tố tụng của bị đơn nêu trên.

[2] Về nội dung: Bà N kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Bà N yêu cầu ông M và bà L trả số nợ gốc còn lại là 465.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi trên số nợ gốc 465.000.000 đồng với mức lãi suất là 14,8%/năm, thời gian tính lãi kể từ ngày 01/10/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm, thành tiền 59.204.055 đồng; số tiền lãi còn nợ của tháng 9/2024 là 1.033.534 đồng. Bà L, ông M không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn. Ông M kháng cáo yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét các kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Chứng cứ chứng minh do nguyên đơn cung cấp là giấy xác nhận ngày 14/8/2024 có nội dung: Bà L, ông M mượn số tiền 600.000.000 đồng của bà N vào tháng 6 năm 2022 qua việc bà N dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

do bà N đứng tên để thế chấp vay tại Ngân hàng Thương mại cổ phần A - Chi nhánh T (tại hợp đồng thế chấp bất động sản số 6420/22/TC/CN/058 ngày 30/6/2022). Bà L, ông M nhận số tiền giải ngân là 600.000.000 đồng và đóng lãi, gốc hàng tháng, đến ngày 09/8/2024 dư nợ còn lại là 475.000.000 đồng; bà L, ông M cam kết tiếp tục đóng lãi, gốc hàng tháng đến tháng 6 năm 2025 trả nợ gốc còn lại. Ông M, bà L thừa nhận có ký tên giấy xác nhận ngày 14/8/2024, tuy nhiên ông bà không có nhận tiền, không có việc vay tiền mà đây là việc hùn làm ăn của ông bà với bà N, do việc làm ăn không thuận lợi nên bà N yêu cầu ông M, bà L viết giấy xác nhận để làm niềm tin cho bà N. Tòa cấp sơ thẩm đã ra thông báo yêu cầu ông M, bà L cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh lời trình bày của mình là có cơ sở, tuy nhiên ông M, bà L không cung cấp được. Nội dung giấy xác nhận ngày 14/8/2024 không có thể hiện việc các bên hùn làm ăn. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét lời trình bày của bị đơn. Xét thấy, ông M, bà L thừa nhận đã ký giấy xác nhận ngày 14/8/2024 là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nội dung giấy xác nhận thể hiện ông M, bà L thừa nhận có mượn tiền bà N số tiền 600.000.000 đồng, bà N xác định số tiền gốc còn nợ là 465.000.000 đồng.

[2.2] Tại phiên tòa sơ thẩm, ông M yêu cầu cấn trừ số tiền mà bị đơn đã chuyển cho nguyên đơn theo giấy đề nghị cấn trừ tiền đề ngày 11/8/2025 (bút lục 114). Người đại diện theo ủy quyền của bà N thừa nhận bị đơn có chuyển cho nguyên đơn số tiền 10.000.000 đồng ngày 09/10/2024, riêng đối với các số tiền bị đơn chuyển cho nguyên đơn trước ngày 14/8/2024 (ngày ký giấy xác nhận) thì không có liên quan trong vụ án này do các bên đã thống nhất chốt số tiền nợ gốc là 475.000.000 đồng ngày 14/8/2024. Về nội dung này, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và sự thừa nhận của ông M tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định từ sau ngày chốt nợ 14/8/2024 thì bị đơn chỉ chuyển khoản trả cho nguyên đơn số tiền gốc 10.000.000 đồng ngày 09/10/2024, ngoài ra không còn chuyển trả cho nguyên đơn khoản tiền nào khác; đối với các khoản tiền bị đơn chuyển khoản cho nguyên đơn trước ngày 14/8/2024 thì người đại diện của nguyên đơn khẳng định không có liên quan trong vụ án, đồng thời các bản phô tô bản chụp thông tin chuyển khoản và sổ phụ tài khoản do ông M cung cấp tại phiên toà sơ thẩm đa số thể hiện nội dung các giao dịch chuyển khoản trước ngày 14/8/2024 có liên quan đến việc chi trả tiền lương. Do đó, việc ông M yêu cầu cấn trừ số tiền đã chuyển cho nguyên đơn theo giấy đề nghị cấn trừ tiền đề ngày 11/8/2025 là không có căn cứ để chấp nhận.

Từ các lẽ trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc 465.000.000 đồng theo giấy xác nhận ngày 14/8/2024 là có cơ sở. Toà cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.

[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu tính lãi số tiền nợ gốc: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu tính lãi đối với số tiền nợ gốc 465.000.000 đồng với mức lãi suất 14,8%/năm, tính từ ngày 01/10/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, thành tiền 59.204.055 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào giấy xác nhận ngày 14/8/2024 được các đương sự thừa nhận có nội dung bà L, ông M đóng lãi, gốc hàng tháng đến tháng 6 năm 2025 trả nợ gốc còn lại. Như vậy, đây là hợp đồng vay tiền có lãi, có thời hạn nên việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi số tiền nợ gốc là có căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự. Về lãi suất, nguyên đơn xác định lãi suất 14,8%/năm căn cứ theo bản sao kê lịch trả nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần A (bút lục 18-20). Theo nội dung giấy xác nhận ngày 14/8/2024, bị đơn biết số tiền vay 600.000.000 đồng là do bà N thế chấp quyền sử dụng đất vay tại Ngân hàng Thương mại cổ phần A - Chi nhánh T tại hợp đồng thế chấp bất động sản số 6420/22/TC/CN/058 ngày 30/6/2022 và cam kết đóng gốc, lãi hàng tháng. Theo Điều 3 của Hợp đồng cho vay từng lần số 6420/22/TD-CN/058 ngày 30/6/2022 được bảo đảm bởi hợp đồng thế chấp bất động sản số 6420/22/TC/CN/058 ngày 30/6/2022 (bút lục 100-104), lãi suất cho vay trong hạn được quy định trong từng Giấy nhận nợ. Theo Giấy nhận nợ số 6420/22/TD/CN/058.01 ngày 30/6/2022 (bút lục 105), lãi suất 12 tháng đầu: 9,05%/năm; lãi suất từ tháng thứ 13 trở đi: lãi suất áp dụng đến kỳ thay đổi lãi suất bằng lãi suất cơ sở tại thời kỳ đổi lãi tương ứng + biên độ 3,9%/năm. Như vậy, mặc dù bị đơn biết bà N vay tiền tại Ngân hàng Thương mại cổ phần A - Chi nhánh T để cho bị đơn vay nhưng hợp đồng cho vay giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần A - Chi nhánh T với bà N có lãi suất không cố định, nội dung giấy xác nhận ngày 14/8/2024 không thể hiện lãi suất cụ thể và trong quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn không đồng ý mức lãi suất 14,8%/năm mà yêu cầu lãi suất theo quy định pháp luật nên việc bà N yêu cầu mức lãi suất 14,8%/năm áp dụng tính lãi từ ngày 01/10/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm là không đủ cơ sở để xem xét. Trường hợp này, các bên có tranh chấp về lãi suất. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xác định mức lãi suất 10%/năm. Số tiền lãi của số tiền vay 465.000.000 đồng từ ngày 01/10/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (12/8/2025) với mức lãi suất 10%/năm là: 40.170.833 đồng.

[2.4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền nợ lãi tháng 9 năm 2024 là 1.033.534 đồng.

Căn cứ giấy xác nhận, tính đến ngày 14/8/2024 bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền gốc 475.000.000 đồng. Vào ngày 10/9/2024, bị đơn có trả nguyên đơn số tiền gốc 10.000.000 đồng, ngoài ra bị đơn không còn chuyển trả khoản tiền nào khác, bị đơn thừa nhận điều này. Như vậy, có căn cứ xác định bị đơn chưa thực hiện trả số tiền lãi trong tháng 9 năm 2024. Số tiền lãi của tiền nợ gốc

475.000.000 đồng phát sinh trong tháng 9 năm 2024 với mức lãi suất 10%/năm theo quy định là: 475.000.000 x 10%/năm x 01 tháng = 3.958.333 đồng. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ lãi phát sinh trong tháng 9 năm 2024 là 1.033.534 đồng thấp hơn số tiền lãi theo quy định là sự tự nguyện của đương sự nên được chấp nhận.

[3] Xét kháng cáo của bà Huỳnh Thị N và ông Nguyễn Thanh M không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà N và ông M; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Do bà N là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí, do đó Hội đồng xét xử điều chỉnh lại án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà Huỳnh Thị N và ông Nguyễn Thanh M không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên, bà N là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N và bị đơn ông Nguyễn Thanh M.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2025/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long.

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị N.

    Buộc bà Đỗ Thị L, ông Nguyễn Thanh M có trách nhiệm liên đới trả cho bà Huỳnh Thị N số tiền 506.204.367đ (năm trăm lẻ sáu triệu hai trăm lẻ bốn nghìn

ba trăm sáu mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc 465.000.000đ (bốn trăm sáu mươi lăm triệu đồng), nợ lãi 41.204.367 (bốn mươi mốt triệu hai trăm lẻ bốn nghìn ba trăm sáu mươi bảy đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị N đối với số tiền lãi 19.033.222đ (mười chín triệu không trăm ba mươi ba nghìn hai trăm hai mươi hai đồng).
  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị N đối với yêu cầu về phần lãi suất quá hạn.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Đỗ Thị L, ông Nguyễn Thanh M phải liên đới chịu án phí số tiền là 24.248.175đ (hai mươi bốn triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn một trăm bảy mươi lăm đồng).

    Bà Huỳnh Thị N phải chịu án phí số tiền 951.661đ (chín trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi mốt đồng. Tuy nhiên, bà N là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí số tiền trên.

    H lại cho bà Huỳnh Thị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 16.821.000đ (mười sáu triệu tám trăm hai mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007974 ngày 11/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5-Vĩnh Long).

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Huỳnh Thị N là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí.

    Ông Nguyễn Thanh M phải chịu án phí số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002362 ngày 28/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b

và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - TAND KV5-VL;
  • - Phòng THADS KV5-VL;
  • - Phòng GĐ,KT,TT&THA TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2026/DS-PT ngày 23/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 76/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger