|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --- |
Bản án số: 76/2025/HNGĐ-ST
Ngày 31-12-2025
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thắng;
Ông Vũ Văn Thôn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 49/2025/HNGĐST-QĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị H, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn T, xã A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đào Văn D, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn T, xã A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hồ Thị H trình bày: Chị và anh Đào Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng ngày 12/9/1992. Quá trình chung sống, anh chị nhiều lần xảy ra mâu thuẫn do anh D không chăm lo cho gia đình, thường xuyên đánh, chửi chị. Từ tháng 5 năm 2025 đến nay, chị đã chuyển đi nơi khác sinh sống nên vợ chồng sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm nhau. Nay, xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể đoàn tụ nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh D. Anh chị có 02 con chung là Đào Thị A, sinh ngày 01/4/1992 và Đào Thị Hương G, sinh ngày 11/02/1999 đều đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho bị đơn nhưng anh D không đến Tòa án tham gia tố tụng.
Xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương về quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh D thể hiện: Anh D1 và chị H tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 1992 và chung sống tại thôn T, xã A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn nên từ tháng 5 năm 2025 đến nay chị H đã chuyển đi nơi khác, không chung sống cùng anh D1 nên anh chị sống ly thân. Gia đình và chính quyền địa phương đã nhiều lần hoà giải nhưng không có kết quả, mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng trầm trọng. Anh chị có hai con chung là Đào Thị A và Đào Thị Hương G đều đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động nuôi sống bản thân. Anh Dũng đã nhận được các văn bản tố tụng của Toà án nhưng anh không đến Toà án làm việc.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, không có mặt theo các quyết định của Tòa án, vi phạm khoản 15, khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn tình cảm giữa chị H và anh D1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H được ly hôn anh D1. Con chung là Đào Thị A, sinh ngày 01/4/1992 và Đào Thị Hương G, sinh ngày 11/02/1999 đều đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét. Không giải quyết về tài sản chung do các đương sự không yêu cầu. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; chị H và anh D1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc ly hôn. Bị đơn có nơi cư trú tại xã A, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
- Các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; các đương sự, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.
- Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh D1.
- Về nội dung:
- Chị Hồ Thị H và anh Đào Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng ngày 12/9/1992 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Chị Hồ Thị H trình bày phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ xác định: Sau khi kết hôn anh chị sống chung tại thôn T, xã A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng; nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, khác nhau về quan điểm sống và không tin tưởng nhau về tình cảm nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hoà; gia đình đã nhiều lần hoà giải nhưng không thành; từ tháng 5 năm 2025 đến nay anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Xét thấy, chị H và anh D đã không còn yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình; không chung sống với nhau; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do mâu thuẫn giữa chị H và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn anh D.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Đào Thị A, sinh ngày 01/4/1992 và Đào Thị Hương G, sinh ngày 11/02/1999 đều đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Hồ Thị H và anh Đào Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Hồ Thị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Chị H và anh D có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị H được ly hôn anh Đào Văn D.
- Về con chung: Hai con chung là Đào Thị A, sinh ngày 01/4/1992 và Đào Thị Hương G, sinh ngày 11/02/1999 đều đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Hồ Thị H và anh Đào Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003339 ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Hồ Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị H và anh Đào Văn D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 76/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 76/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hồ Thị H - Anh Đào Văn D
