Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 750/2025/DS-PT

Ngày 25/12/2025

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chế Linh

Ông Nguyễn Vĩnh Khương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 440/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 11 năm 2025 về “tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 37/2025/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2025 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 21/2025/QĐ-SCBSBA ngày 27/10/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 843/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 678/2025/QĐ –PT ngày 15 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Ông Võ Văn M, sinh năm 1969 (có mặt)
    2. Bà Phạm Thị Thu Y, sinh năm: 1971.

    Cùng trú tại: Ấp M, xã P, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện theo uỷ quyền của bà Y: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1957. Địa chỉ: Khu V, phường N, thành phố Cần Thơ (có mặt).

  2. Bị đơn:
    1. Ông Đào C, sinh năm 1956 (xin vắng mặt)
    2. Bà Mai Thị Đ1, sinh năm 1955.

    Cùng trú tại: Khu V, phường N, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ1: Ông Phạm Văn M1, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp S, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (nay là khu vực S, phường Đ, thành phố Cần Thơ). (có mặt).

* Người kháng cáo: Bị đơn là ông Đào C và bà Mai Thị Đ1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn trình bày và yêu cầu tại đơn khởi kiện và lời khai của bà Phạm Thị Đ là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu Y trong quá trình tố tụng:

Vào năm 2016, vợ chồng ông Võ Văn M và bà Phạm Thị Thu Y có nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà Mai Thị Đ1 và ông Đào C thửa đất 1508, diện tích là 2.940,7m² (ngang trên 25,82m, ngang đưới: 20m; dài phải: 142,19m ; dài trái 132,33m), tờ bản đồ số 12, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH03231, do Ủy ban nhân dân thị xã N cấp ngày 15/01/2016. Đất tọa lạc tại khu V, phường L, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

Từ lúc nhận chuyển nhượng đất đến nay, ông M và bà Y không sử dụng, canh tác được đất, do bà Đ1 và ông C cản trở, phá hoại cây trồng của nguyên đơn. Đem cây rào trên đất nên nguyên đơn không còn đường đi vào đất để canh tác. Gia đình bà Đ1, và ông C còn hăm doạ đâm chém nguyên đơn nếu vượt qua hàng rào để vào sử dụng đất. Những lần như vậy, nguyên đơn đều có báo công an phường L giải quyết.

Lúc sang nhượng đất, vị trí cọc ranh cắm đến giữa lộ nên hai bên thống nhất thục vào trong khoảng 6m để cấm cọc cho người dân qua lại dễ dàng. Tuy nhiên, bà Đ1 và ông C lại cho rằng, cọc đến đâu là ranh đến đó nên bà làm hàng rào chiếm đất của nguyên đơn, không cho vợ chồng nguyên đơn đi lại canh tác trên đất của mình. Khi đo đạc sang nhượng để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, chính quyền địa phương có chừa lại lộ giới khoảng 3m từ vị trí đất chuyển nhượng xuống mé kênh để sau này làm lộ giao thông. Chính quyền xác định, đất này thuộc nhà nước quản lý nên nguyên đơn cũng đồng ý. Tuy nhiên, bà Đ1 cho rằng, đất đó là của bà nên bà không cho nguyên đơn đi lại. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Buộc gia đình bà Đ1 và ông C phải tháo dỡ hàng rào, trả lại cho nguyên đơn phần đất lấn chiếm qua đo đạc có diện tích 119,2m². Còn đối với phần đất 63,9m2 nằm trong lộ giới của bờ kênh thủy lợi là đất của Nhà nước quản lý và phía bị đơn không được quyền ngăn cản nguyên đơn làm lối đi vào đất (các phần đất tranh chấp được xác định theo Mảnh trích đo địa chính số 193 ngày 25/12/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố N). Ngoài ra, nguyên đơn thống nhất xác định giá trị tài sản liên quan tranh chấp theo Chứng thư thẩm định giá số 235/2025/197-BĐS ngày 16/7/2025 của Công ty cổ phần T để làm cơ sở giải quyết vụ án.

- Bị đơn ông Đào C và bà Mai Thị Đ1 trình bày:

Ông, bà không đồng ý theo các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đất tranh chấp là của ông, bà, không sang bán cho bà Y. Khi sang nhượng đất, ông, bà không có thỏa thuận cho đường đi, đất nằm ngoài phạm vi 04 trụ đá là của ông, bà, còn đất trong phạm vi 04 trụ đá là đã sang nhượng cho bà Y thì bà có quyền sử dụng.

Ông, bà không thống nhất kết quả đo đạc theo Mảnh trích đo địa chính số 193 ngày 25/12/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố N nhưng cũng không yêu cầu đo đạc, thẩm định lại. Đất tranh chấp là của ông, bà nên ông, bà không thoả thuận về giá trị tài sản. Đối với Chứng thư thẩm định giá số 235/2025/197-BĐS ngày 16/7/2025 của Công ty cổ phần T thì ông, bà không thống nhất nhưng cũng không yêu cầu định giá lại. Ông, bà yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2025/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Cần Thơ, đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn M và bà Phạm Thị Thu Y.

Buộc bị đơn ông Đào C và bà Mai Thị Đ1 tháo dỡ hàng rào trả lại phần đất đã lấn chiếm tại vị trí số (2) diện tích là 119,2m2 theo Mảnh trích đo địa chính số 193 ngày 25/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N (kèm Mảnh trích đo địa chính).

Đối với cây trồng trên đất tại vị trí số (2) buộc bị đơn giao cho nguyên đơn sử dụng.

Buộc nguyên đơn có trách nhiệm hoàn lại giá trị cho bị đơn số tiền là 1.265.000đồng (Một triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bị đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu nguyên đơn chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng nguyên đơn còn phải trả lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

Buộc bị đơn không được ngăn cản nguyên đơn sử dụng phần đất tại vị trí số (3) làm lối đi vào phần đất của nguyên đơn.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu. Tuy nhiên bị đơn là người cao tuổi nên được miễn theo quy định. Nguyên đơn phải chịu 300.000đồng chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0008979 ngày 18/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 – Cần Thơ) thành án phí nguyên đơn không phải nộp thêm.

Chi phí thẩm định, định giá tài sản, trích lục hồ sơ bị đơn phải chịu 9.566.030đ (Chín triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng không trăm ba mươi đồng).

Nguyên đơn được nhận lại 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) chi phí tạm ứng xem xét thẩm định, định giá tài sản, trích lục hồ sơ. Cụ thể:

Nhận lại 5.433.970đ (Năm triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn chín trăm bảy mươi đồng) tại Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ và 9.566.030đ (Chín triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng không trăm ba mươi đồng) tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 13 – Cần Thơ sau khi bị đơn nộp để hoàn lại cho nguyên đơn.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

Ngày 05/9/2025, các bị đơn ông Đào C và bà Mai Thị Đ1 kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm thẩm tra, xác minh làm rõ quá trình nguyên đơn nhận chuyển nhượng đất, vị trí, mốc giới. Đề nghị giữ nguyên hiện trạng đất chuyển nhượng, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không phải chịu các chi phí tố tụng như án sơ thẩm quyết định.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn giữ yêu cầu kháng cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về hình thức kháng cáo: Bị đơn kháng cáo còn trong thời hạn và được miễn đóng tiền tạm ứng án phí (do là người cao tuổi) nên hợp lệ về mặt hình thức.

- Xét về nội dung kháng cáo: Kiểm sát viên phân tích các tình tiết của vụ án, tài liệu, chứng cứ được thu thập xác định: Khi bị đơn chuyển nhượng đất cho nguyên đơn, cơ quan chức năng có tiến hành đo đạc xác định kích thước, diện tích đất chuyển nhượng. Đối chiếu với phần đất đang sử dụng thực tế so với giấy được cấp thì đất tranh chấp do nguyên đơn đã nhận chuyển nhượng. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của các bị đơn ông Đào C và bà Mai Thị Đ1, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 31/12/2015, ông Đào C và các thành viên chung hộ ký hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng bà Phạm Thị Thu Y, ông Phạm Văn M2 thửa đất 1508 (thuộc một phần thửa 262 do hộ ông C đứng tên quyền sử dụng), diện tích đất 2.940,7m² (loại 2L), tọa lạc tại Khu V, phường L, thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Hợp đồng chuyển nhượng đất được Ủy ban nhân dân phường L, thị xã N chứng thực số 179, quyển số 01/2015 – SCT/HĐ,GD cùng ngày. Đến ngày 15/01/2016, bà Y và ông M2 được Ủy ban nhân dân thị xã N, tỉnh Hậu Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03231, thửa 1508, diện tích 2.940,7m².

Nguyên đơn cho rằng, do bị đơn chiếm sử dụng một phần đất đã chuyển nhượng, phá hoại cây trồng trên đất và còn có hành vi rào chắn phần đất cặp bờ kinh nhằm cản trở không cho nguyên đơn đi vào trong để sử dụng đất của mình. Theo kết quả đo đạc thực tế tại Mảnh trích đo địa chính số 193-2023 ngày 25/12/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố N thể hiện như sau:

  • Phần đất nguyên đơn sử dụng không có tranh chấp diện tích 2.694,2m² (vị trí số 1);
  • Phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn diện tích 119,2m² (vị trí 2);
  • Phần đất bờ kinh nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Y và ông M2 là 63,9m² (vị trí 3).

[2] Qua kết quả đo đạc nêu trên thấy rằng, không tính phần đất tranh chấp thì nguyên đơn sử dụng thửa đất 1508 còn thiếu diện tích so với giấy chứng nhận được cấp là 246,5m².

Xét về vị trí, phần đất tranh chấp (diện tích 119,2m²) nêu trên nằm ở mặt tiền, trong phạm vi của thửa đất 1508 do nguyên đơn nhận chuyển nhượng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Bị đơn cho rằng, đất này thuộc quyền sử dụng của mình và chiếm sử dụng là không phù hợp.

Mặt khác, khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng đất của bị đơn, cơ quan chức năng có lập hồ sơ đo đạc, xác định rõ kích thước, vị trí, diện tích đất chuyển nhượng. Bên chuyển nhượng đã ký xác nhận kết quả nên phải có nghĩa vụ giao đủ diện tích đất đã chuyển nhượng cho nguyên đơn sử dụng. Bị đơn tự ý lấn, chiếm sử dụng một phần đất đã chuyển nhượng cho nguyên đơn là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên buộc phải chấm dứt hành vi này, trả lại cho nguyên đơn diện tích đất 119,2m² (vị trí 2) theo Mảnh trích đo địa chính là phù hợp.

[3] Đối với phần đất diện tích 63,9m² (vị trí 3), cặp bờ kinh thủy lợi: Đất này nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Nhà nước quản lý (theo xác nhận của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N tại văn bản phúc đáp số 555/PTNMT ngày 26/5/2025, bút lục 183). Khi cơ quan chức năng đo đạc cấp giấy đất cho nguyên đơn thể hiện tại Biên bản mô tả ranh giới đất thì thửa đất 1508 tiếp giáp với đất bờ kinh thủy lợi có chiều ngang 03m, vị trí đất này (bờ kinh) là mặt tiền của thửa đất 1508. Do đó, việc gia đình bị đơn có hành vi rào chắn phần đất bờ kinh, nhằm cản trở, gây khó khăn đối với việc sử dụng thửa đất 1508 của nguyên đơn là trái pháp luật, bị nghiêm cấm theo quy định tại Điều 12 của Luật đất đai năm 2013 và Điều 11của Luật đất đai năm 2024 nên buộc phải chấm dứt các hành vi này.

[4] Từ những phân tích nêu trên nhận thấy rằng, cấp sơ thẩm xác định đất tranh chấp diện tích 119,2m² (vị trí 2) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn và buộc bị đơn giao trả lại, đồng thời buộc bị đơn phải chấm dứt hành vi rào chắn, cản trở nguyên đơn sử dụng phần đất cặp bờ kinh diện tích 63,9m² (vị trí 3) do Nhà nước quản lý để có lối đi vào trong sử dụng thửa đất 1508 của nguyên đơn là phù hợp. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới nên không có căn cứ chấp nhận.

[5] Về chi phí xem xét, thẩm định, định giá tài sản và chi phí tố tụng khác: Do bị đơn là bên có lỗi dẫn đến phát sinh tranh chấp và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu các chi phí tố tụng theo quy định tại các Điều 157 và Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự như án sơ thẩm quyết định là có căn cứ.

[6] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của các bị đơn không có căn cứ chấp nhận, lẽ ra phải chịu án phí. Tuy nhiên, ông C và bà Đ1 thuộc đối tượng là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Đào C và bà Mai Thị Đ1.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2025/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Cần Thơ.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí cho ông Đào C và bà Mai Thị Đ1.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày được tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPCT;
  • - THADS TPCT;
  • - TAND khu vực 13-Cần Thơ;
  • - Phòng THADS khu vực 13-Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Võ Bảo Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 750/2025/DS-PT ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 750/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger