Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST

Ngày 31-12-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Văn Thắng;
    • Ông Vũ Văn Thôn.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 90/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 48/2025/HNGÐST-QĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Vũ Văn D, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Chị Dương Thị D1, sinh năm 1980; nơi ĐKTT: Thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn C, xã A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Vũ Văn D trình bày: Anh và chị Dương Thị D1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng ngày 28/5/2014. Quá trình chung sống, anh chị nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do khác nhau về quan điểm sống. Từ năm 2022, chị D1 đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn C sinh sống nên vợ chồng sống ly thân, không quan tâm nhau. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ nên yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị D1. Anh chị có 03 con chung là Vũ Thùy D2, sinh ngày 26/11/1999 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Toà án giải quyết; Vũ Diệu T, sinh ngày 15/3/2009 và Vũ Hoàng N, sinh ngày 09/3/2015. Ly hôn, anh đề nghị được nuôi con N và đồng ý để chị D1 nuôi con T; không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho bị đơn nhưng chị D1 không đến Tòa án tham gia tố tụng.

Xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương về quan hệ hôn nhân giữa anh D và chị D1 thể hiện: Anh chị tự nguyện kết hôn và chung sống tại thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, khác nhau về quan điểm sống. Từ năm 2022 đến nay chị D1 đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống nên vợ chồng sống ly thân. Anh chị có ba con chung là Vũ Thùy D2 đã đủ 18 tuổi; Vũ Diệu T đang sống chung với chị D1 và Vũ Hoàng N đang sống chung với anh D. Anh chị đều có chỗ ở, thu nhập ổn định, đảm bảo việc nuôi con.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo thông báo của Tòa án, vi phạm khoản 15, khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn tình cảm giữa anh D và chị D1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh D được ly hôn chị D1. Con chung Vũ Thùy D2 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét, giải quyết. Giao con chung Vũ Hoàng N cho anh D và giao con chung Vũ Diệu T cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng. Không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung do đương sự không yêu cầu. Anh Dũng là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; anh D và chị D1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn là chị Dương Thị D1 có nơi cư trú tại xã A, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
  2. Các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; các đương sự, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.
  3. Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D và chị D1.

- Về nội dung:

  1. Anh Vũ Văn D và chị Dương Thị D1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng ngày 28/5/2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  2. Anh Vũ Văn D trình bày phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ xác định: Sau khi kết hôn anh chị sống chung tại thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, khác nhau về quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hoà; gia đình đã nhiều lần hoà giải nhưng không thành; từ năm 2022 đến nay anh chị đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Xét thấy, anh D và chị D1 đã không còn yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình; không chung sống với nhau; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do mâu thuẫn giữa anh D và chị D1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của anh D được ly hôn chị D1.
  3. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Vũ Thùy D2, sinh ngày 26/11/1999 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Toà án giải quyết; Vũ Diệu T, sinh ngày 15/3/2009 và Vũ Hoàng N, sinh ngày 09/3/2015. Xét thấy, việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chung hai bên cha mẹ đều có tình cảm, quyền và trách nhiệm như nhau. Hiện nay, con chung Vũ Diệu T đang chung sống với chị D1, có nguyện vọng ở với mẹ và con chung Vũ Hoàng N đang chung sống với anh D, có nguyện vọng ở với bố; anh chị đều có chỗ ở, công việc ổn định, đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt của con khi cha mẹ ly hôn nên căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con Vũ Diệu T cho chị D1 và giao con Vũ Hoàng N cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, anh D và chị D1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về tài sản chung: Anh Vũ Văn D và chị Dương Thị D1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Căn cứ vào quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Vũ Văn D là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Anh Dũng và chị D1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:
  2. Anh Vũ Văn D được ly hôn chị Dương Thị D1.

  3. Về con chung:
    1. Con chung Vũ Thùy D2, sinh ngày 26/11/1999 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
    2. Giao con chung Vũ Diệu T, sinh ngày 15/3/2009 cho chị Dương Thị D1 trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Vũ Hoàng N, sinh ngày 09/3/2015 cho anh Vũ Văn D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  4. Về tài sản chung:
  5. Anh Vũ Văn D và chị Dương Thị D1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  6. Về án phí:
  7. Anh Vũ Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí anh D đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004297 ngày 17/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Vũ Văn D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

  8. Về quyền kháng cáo:
  9. Anh Vũ Văn D và chị Dương Thị D1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  10. Trường hợp bản án được thi hành:
  11. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thắng

Vũ Văn Thôn

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Vũ Văn D - Chị Dương Thị D1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger