Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 743/2025/DS-PT

Ngày 23/12/2025

“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán: Bà Đào Thị Thủy

Bà Mạc Thị Chiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 496/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án Dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 09 tháng 09 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ có kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 832/2025/QĐPT – DS ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ. (có mặt).

Bị đơn: Ông Cao Văn K, sinh năm 1987; Địa chỉ: Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh N, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Tổ C, ấp S, xã Ó, tỉnh An Giang. (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966; Địa chỉ: Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ. (có mặt).

- Người kháng cáo: Ông Cao Văn K là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Phạm Văn T trình bày như sau: Ông T là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất số 2022, tờ bản đồ số 04, số vào sổ cấp GCN CS08379, diện tích 280,9 mét vuông, loại đất CLN, được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 20/5/2022 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận T chỉnh lý trang 4 vào ngày 29 tháng 12 năm 2023, địa chỉ thửa đất tại khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (cũ) nay là khu vực Q, phường T, thành phố Cần Thơ. Nguồn gốc thửa đất 2022 do ông T nhận chuyển nhượng từ ông Võ Hoàng N1.

Giáp ranh với thửa 2022 là thừa đất số 86 do ông Cao Văn K đứng tên chủ sử dụng đất. Quá trình sử dụng đất, bà Nguyễn Thị M là mẹ ruột của ông K tự ý xây dựng mái che lấn chiếm qua thửa 2022 chiều ngang 01 mét, chiều dài 05 mét, tổng diện tích là 05m². Ông T có gặp ông K và bà M để thỏa thuận nhưng phía ông K và bà M không thừa nhận việc lấn chiếm qua thửa đất 2022 nên giữa các bên phát sinh tranh chấp. Ông T yêu cầu ông K và bà M có trách nhiệm tháo dỡ di vời các công trình xây dựng trả lại cho ông T phần đất lấn chiếm diện tích 05m². Quá trình giải quyết vụ án, ông T thay đổi nội dung khởi kiện, yêu cầu ông K và bà M có trách nhiệm tháo dỡ di dời các công trình xây dựng, vật kiến trúc trả lại cho ông T phần đất lấn chiếm diện tích 25.2m².

* Bị đơn ông K trình bày: Ông K là chủ sử dụng thửa đất số 86 giáp ranh với thửa đất số 2022 của ông T. Về nguồn gốc thửa 2022 trước đây là của ông K, ông K chuyển nhượng lại cho bà Bé C1, sau đó bà C1 chuyển nhượng lại cho người khác. Khi chuyển nhượng giữa ông và bà Bé C1 đã xác nhận ranh đất tứ cận đầy đủ. Khi ông T nhận chuyển nhượng lại thì phát sinh tranh chấp. Nay qua yêu cầu khởi kiện của ông T thì ông K cho rằng trước đó ông đã thỏa thuận ranh với bà C1 và sử dụng đúng ranh đất nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông T.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà là mẹ ruột của ông K, hiện đang sống trên thửa đất số 86. Bà thống nhất ý kiến với ông K, khi xây dựng hàng rào, mái che không lấn qua đất của ông T nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông T.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sơ thẩm đã tiến hành thành lập hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với thửa 2022 và thửa 86. Tại bản trích đo địa chính số 64-2025 ngày 25/6/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai - Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C thể hiện phần diện tích tranh chấp là 45,1 mét vuông (tại vị trí A là 19,9 mét vuông; tại vị trí B là 25,2 mét vuông).

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại bản án số 61/2025/DSST ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Công nhận phần đất có diện tích 8.8m² loại đất CLN tại vị trí B (một phần diện tích tranh chấp), theo bản trích đo địa chính số 64-2025, thuộc thửa đất số 2022, tờ bản đồ số 04, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS08379, diện tích 280.9 mét vuông, loại đất CLN, được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 20/5/2022 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận T chỉnh lý trang 4 vào ngày 29 tháng 12 năm 2023, địa chỉ thửa đất tại khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (cũ) nay là khu vực Q, phường T, thành phố Cần Thơ thuộc quyền quản lý, sử dụng của nguyên đơn ông Phạm Văn T.

- Công nhận diện tích đất 19.9m² loại đất CLN, tại vị trí A và diện tích đất 16.4 mét vuông loại đất CLN thuộc một phần vi trí B (thể hiện nét đứt trên Bản trích đo địa chính 64-2025) cho bị đơn ông Cao Văn K được quyền quản lý, sử dụng.

- Bị đơn ông Cao Văn K có trách nhiệm thanh toán giá trị diện tích 16.4m² với số tiền 1.600.000 đồng/m² = 26.240.000 đồng cho nguyên đơn ông Phạm Văn T.

- Bị đơn ông Cao Văn K có trách nhiệm tháo dỡ di dời công trình, vật kiến trúc trên phần diện tích đất 8.8m² để giao trả cho nguyên đơn ông Phạm Văn T quản lý sử dụng.

- Vị trí, kích thước và hình thể các thửa đất được thể hiện tại các bản trích đo địa chính số 64-2025/VPĐKĐĐ của Văn phòng đăng ký đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C (củ) nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C đo vẽ ngày 25/6/2025 (có bản trích đo địa chính kèm theo).

- Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Cao Thị B Chính đứng tên, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS08379, thửa 2022, tờ bản đồ số 04, diện tích 280,9 mét vuông, loại đất CLN, được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 20/5/2022 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận T chỉnh lý trang 4 vào ngày 29 tháng 12 năm 2023 chuyển nhượng thửa đất cho ông Phạm Văn T, địa chỉ thửa đất tại khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (cũ) nay là khu vực Q, phường T, thành phố Cần Thơ và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN09624, thửa số 86, tờ bản đồ số 45, diện tích 732.1m² (150m² ODT và 582.1m² loại CLN) được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T, thành phố Cần Thơ (củ) cấp ngày 28/12/2023 cho bị đơn ông Cao Văn K.

- Các đương sự được quyền liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật, chi phí phát sinh cho việc cấp giấy do các đương sự tự chịu theo quy định.

- Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền chi phí đo đạcthẩm định và tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ tuyên xử ông Cao Văn K đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm; ông Lê Thanh N đại diện ủy quyền của ông Cao Văn K trình bày: Bản án sơ thẩm có vi phạm về tố tụng cụ thể như không đưa bà C1, ông N1 vào tham gia với tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Về ranh giới đã xác định ranh với bà C1. Ông T là chuyển nhượng sau nên cho rằng phía bị đơn lấn chiếm là không đúng, trường hợp nếu có trả giá trị quyền sử dụng đất thì nguyên đơn chỉ trả cho bà C1, không đồng ý theo yêu cầu của ông T.

Ông T trình bày: Diện tích đất ông chuyển nhượng của ông N1 là 280.9m² căn cứ theo giấy chứng nhận trên thì diện tích đất của ông còn thiếu là hơn 47,4m² trong khi tính luôn phần đất tranh chấp thì diện tích đất của bị đơn dôi dư. Ông đề nghị giữ y bản án sơ thẩm.

Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Căn cứ bản trích đo địa chính số 64-2025 ngày 25/6/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai - Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C phần đất tranh chấp tại vị trí (A) diện tích 19,9m² và vị trí (B) diện tích 25,2m² do bị đơn ông Cao Văn K đang sử dụng.

Về nguồn gốc đất: Nguyên đơn cho rằng nguồn gốc gốc đất thửa 2022 nguyên đơn nhận chuyển nhượng của ông Võ Hoàng N1; Phía bị đơn cho rằng nguồn gốc thửa 2022 trước đây là của bị đơn và bị đơn đã chuyển nhượng lại cho bà Bé C1, sau đó bà Bé C1 chuyển nhượng lại cho người khác, khi chuyển nhượng giữa bị đơn và bà Bé C1 đã xác nhận ranh đất tứ cận đầy đủ khi ông T nhận chuyển nhượng lại thì phát sinh tranh chấp.

Nhận thấy, phần diện tích đất bị đơn đang sử dụng theo đo đạc thực tế tổng là 757.4m² (gồm phần đất không tranh chấp tại thửa 86 là 712.3m² + phần đất tranh chấp tại vị trí (A) là 19.9m² + phần tranh chấp tại vị trí (B) là 25.2m²) nhiều hơn 25.3m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 86 mà bị đơn được cấp là 732,1m².

Phần diện tích đất theo đo đạc thực tế nguyên đơn ông Phạm Văn T đang sử dụng có diện tích 233.5m², thiếu 47.4m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 280.9m². Do vậy, việc nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn chiếm phần đất tại thửa 2022 là có căn cứ.

Theo biên bản hòa giải ngày 11/8/2025 nguyên đơn yêu cầu được công nhận phần diện tích đất 25.2m² tại vị trí (B) theo bản trích đo địa chính số 64-2025 thuộc thửa đất 2022, đối với phần diện tích đất 19.9m² tại vị trí (A) nguyên đơn không yêu cầu và đồng ý giao cho bị đơn và bị đơn đồng ý nhận diện tích tranh chấp tại vị trí (A) đối với vị trí (B) bị đơn đồng ý trả lại giá trị với số tiền 2.500.000đồng/m², do phần diện tích đất bị đơn đã xây dựng công trình trên đất nếu tháo dỡ di dời sẽ gây thiệt hại nhiều cho bị đơn. Do đó, giao cho bị đơn vị trí (A) và nguyên đơn vị trí (B) theo bản trích đo địa chính 64-2025 là phù hợp. Tuy nhiên, đối với phần vị trí (B) tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn cho rằng nếu có trả thì chỉ đồng ý trả cho bà Cao Thị Bé C đối với phần diện tích đất tranh chấp tại vị trí (B) do trước đây các bên thực hiện việc mua bán chuyển nhượng đất, ông T là người nhận chuyển nhượng thửa đất sau nên bị đơn không có trách nhiệm gì với ông T.

Nhận thấy, thời điểm bị đơn xây dựng công trình, vật kiến trúc trên đất, giữa nguyên đơn và bị đơn có xảy ra tranh chấp phía gia đình bị đơn bà Nguyễn Thị M cam kết nếu xây dựng có lấn ranh thì đồng ý tháo dỡ di dời không yêu cầu bồi thường theo biên bản làm việc được chính quyền địa phương lập ngày 11/7/2024 (bút lục 51, 52). Do nguyên đơn yêu cầu tháo dỡ đối với phần máy che, hàng rào lưới B40 có lấn qua còn phần tường nhà không yêu cầu tháo dỡ, nên buộc bị đơn tháo dỡ di dời tài sản trả lại phần diện tích tranh chấp 8.8m² (thuộc một phần vị trí B). Đối với phần diện tích tranh chấp còn lại của vị trí (B) 16.4m² là tường nhà của bị đơn nên ổn định cho bị đơn và buộc bị đơn trả lại giá trị cho nguyên đơn là có căn cứ.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Cao Văn K. Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 09/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: "Tranh chấp quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét.
  2. Xét nội dung vụ án: Thửa đất 2022 tờ bản đồ số 4, diện tích 280.9m² loại đất CLN được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 20/5/2022 cho bà Cao Thị Bé C và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận T chỉnh lý tại trang 4 chyển nhượng cho ông Phạm Văn T vào ngày 29 tháng 12 năm 2023. Giáp ranh với thửa 2022 là thừa đất số 86 do ông Cao Văn K đứng tên chủ sử dụng đất. Ông T cho rằng bị đơn lấn chiếm đất ông chiều ngang 01 mét, chiều dài 05 mét, tổng diện tích là 05m². Ông T yêu cầu ông K và bà M có trách nhiệm tháo dỡ di dời các công trình xây dựng trả lại cho ông T phần đất lấn chiếm diện tích 05m². Tuy nhiên, sau đó, ông T thay đổi nội dung khởi kiện, yêu cầu ông K và bà M có trách nhiệm tháo dỡ di dời các công trình xây dựng, vật kiến trúc trả lại cho ông T phần đất lấn chiếm diện tích 25.2m² . Phía bị đơn không thừa nhận lấn chiếm đất của ông tài.

    Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ theo bản trích đo địa chính số 64-2025 ngày 25/6/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai - Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C thể hiện phần diện tích đất mà bị đơn đang sử dụng là 757.4 mét vuông (gồm phần đất không tranh chấp tại thửa 86 là 712.3 mét vuông + phần tranh chấp tại vị trí A là 19.9 mét vuông + phần tranh chấp tại vị trí B là 25.2 mét vuông), nhiều hơn 25.3m² so với diện tích 732.1m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 86 mà bị đơn được cấp. Diện tích đất thửa 2022, qua đo đạc thực tế có diện tích 233.5m², thiếu 47.4m² so với quyền sử dụng đất được cấp là 280.9m² . Như vậy, diện tích đất của bị đơn thừa và đất của nguyên đơn lại thiếu ở cả hai vị trí A và B.

    Xét biên bản hòa giải ngày 11/8/2025 nguyên đơn yêu cầu được công nhận phần diện tích đất 25.2m² tại vị trí B theo bản trích đo địa chính số 64-2025 thuộc thửa đất 2022, đối với phần diện tích đất 19.9m² tại vị trí A thì nguyên đơn không yêu cầu và đồng ý giao cho bị đơn. Bị đơn đồng ý nhận diện tích tranh chấp tại vị trí A còn đối với vị trí B thì bị đơn đồng ý trả lại giá trị, do phần diện tích đất này bị đơn đã xây dựng công trình trên đất nếu tháo dỡ di dời sẽ gây thiệt hại nhiều cho bị đơn. Tuy nhiên, sau đó bị đơn thay đổi yêu cầu không đồng ý trả tiền cho nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cho rằng chỉ chịu trách nhiệm với bà Cao Thị Bé C1, còn đối với nguyên đơn, bị đơn không đồng ý.

    Hội đồng xét xử nhận thấy, như đã phân tích bản án sơ thẩm giao cho bị đơn vị trí A và nguyên đơn vị trí B theo bản trích đo địa chính 64-2025 là phù hợp. Tuy nhiên đối với phần vị trí B tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn cho rằng nếu có trả thì chỉ đồng ý trả cho bà Cao Thị Bé C đối với phần diện tích đất tranh chấp tại vị trí B do trước đây các bên thực hiện việc mua bán chuyển nhượng đất, ông T là người nhận chuyển nhượng sau nên bị đơn không có trách nhiệm gì với ông T.

    Qua lời trình bày các bên Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại thời điểm bị đơn xây dựng công trình, vật kiến trúc trên đất, giữa các bên có xảy ra tranh chấp phía gia đình bị đơn cam kết nếu xây dựng có lấn ranh thì đồng ý tháo dỡ di dời theo biên bản được chính quyền địa phương lập ngày 11/7/2024 (Bút lục 51,52), tại phiên tòa sơ thẩm bà Nguyễn Thị M cũng thừa nhận. Vì vậy, căn cứ theo cam kết trên thì bị đơn phải có nghĩa vụ tháo dỡ phần xây dựng trái phép trên phần lấn chiếm để trả đất lại cho nguyên đơn. Đáng lý ra, bị đơn phải trả đủ diện tích đất còn thiếu cho nguyên đơn là 47,4m² nhưng nguyên đơn chấp nhận nhận diện tích 8,8m² và nhận giá trị 16,4m² là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.

    Vì vậy, buộc bị đơn tháo dỡ di dời tài sản trả lại phần diện tích tranh chấp 8.8m² (thuộc một phần vị trí B), riêng phần diện tích tranh chấp còn lại của vị trí B là 16.4m² là tường nhà của bị đơn, bản án sơ thẩm buộc bị đơn trả lại giá trị theo giá trị là 1.600.000 đồng/m² là phù hợp cụ thể số tiền bị đơn phải trả là: 1.600.000 đồng/m2 x 16.4m² = 26.240.000 đồng nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  3. Xét kháng cáo của bị đơn: Bị đơn cho rằng trước đây khi chuyển nhượng thửa 2022 cho bà C1 và có thỏa thuận với bà C1 về ranh giới nhưng bị đơn trình bày không có gì chứng minh và cũng không làm thay đổi diện tích của thửa 2022 trên giấy chứng nhận, thực tế như đã phân tích trên nếu giao diện tích tại vị trí A cho bị đơn thì thửa 86 không thiếu so với giấy đất và phù hợp với hình thể, kích thướt của các thửa đất đã được cấp giấy đất, nên không có cơ sở để xem xét. Bản án sơ thẩm tuyên là phù hợp nên giữ nguyên.
  4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản: Bị đơn ông Cao Văn K phải chịu số tiền 7.300.000 đồng. Nguyên đơn đã tạm nộp trước nên bị đơn có trách nhiệm nộp trả lại nguyên đơn số tiền này.
  5. Về án phí sơ thẩm dân sự: bị đơn ông Cao Văn K phải chịu 1.612.000 đồng. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các phiếu thu số 0002932, ngày 08/9/2025 là 300.000 đồng và phiếu thu số 0005764 ngày 05/11/2024 số tiền 300.000 đồng, tại phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4- Cần Thơ.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003315 ngày 19/9/2025 thành án phí. Ông K đã nộp đủ.
  7. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 157;Điều 165; Khoản 1, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Điều 164, Điều 166, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Nghị quyết Số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, qản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Cao Văn K. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

  1. Công nhận phần đất có diện tích 8.8 mét vuông loại đất CLN tại vị trí B (một phần diện tích tranh chấp), theo bản trích đo địa chính số 64-2025, thuộc thửa đất số 2022, tờ bản đồ số 04, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS08379, diện tích 280.9 mét vuông, loại đất CLN, được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 20/5/2022 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận T chỉnh lý trang 4 vào ngày 29 tháng 12 năm 2023, địa chỉ thửa đất tại khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (cũ) nay là khu vực Q, phường T, thành phố Cần Thơ thuộc quyền quản lý, sử dụng của nguyên đơn ông Phạm Văn T.
    • - Công nhận diện tích đất 19.9m² loại đất CLN, tại vị trí A và diện tích đất 16.4m² loại đất CLN thuộc một phần vi trí B (thể hiện nét đứt trên Bản trích đo địa chính 64-2025) cho bị đơn ông Cao Văn K được quyền quản lý, sử dụng.
    • - Bị đơn ông Cao Văn K có trách nhiệm thanh toán giá trị diện tích 16.4m² với số tiền 1.600.000đồng/m² = 26.240.000đồng cho nguyên đơn ông Phạm Văn T.
    • - Bị đơn ông Cao Văn K có trách nhiệm tháo dỡ di dời công trình, vật kiến trúc trên phần diện tích đất 8.8m² để giao trả cho nguyên đơn ông Phạm Văn T quản lý sử dụng.
    • - Vị trí, kích thước và hình thể các thửa đất được thể hiện tại các bản trích đo địa chính số 64-2025/VPĐKĐĐ của Văn phòng đăng ký đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C (củ) nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C đo vẽ ngày 25/6/2025 (có bản trích đo địa chính kèm theo).
    • - Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Cao Thị B Chính đứng tên, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS08379, thửa 2022, tờ bản đồ số 04, diện tích 280,9 mét vuông, loại đất CLN, được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 20/5/2022 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận T chỉnh lý trang 4 vào ngày 29 tháng 12 năm 2023 chuyển nhượng thửa đất cho ông Phạm Văn T, địa chỉ thửa đất tại khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (cũ) nay là khu vực Q, phường T, thành phố Cần Thơ và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN09624, thửa số 86, tờ bản đồ số 45, diện tích 732.1m² (150m² ODT và 582.1m² loại CLN) được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T, thành phố Cần Thơ (củ) cấp ngày 28/12/2023 cho bị đơn ông Cao Văn K.
    • - Các đương sự được quyền liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật, chi phí phát sinh cho việc cấp giấy do các đương sự tự chịu theo quy định.
    • - Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
  2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản: Bị đơn ông Cao Văn K phải chịu số tiền 7.300.000 đồng. Nguyên đơn đã tạm nộp trước nên bị đơn có trách nhiệm nộp trả lại nguyên đơn số tiền này.
  3. Về án phí sơ thẩm dân sự:

    Bị đơn ông Cao Văn K phải chịu 1.612.000 đồng.

    Nguyên đơn ông Phạm Văn T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005764 ngày 05/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 - Cần Thơ) và 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002932, ngày 08/9/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003315 ngày 19/9/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí. Ông K đã nộp đủ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đào Thị Thủy - Mạc Thị Chiên

Nguyễn Văn Hải

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND.TPCT;
  • - TAND khu vực 4 – Cần Thơ;
  • - THADS thành phố Cần Thơ;
  • - Phòng THADS khu vực 4 – Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 743/2025/DS-PT ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 743/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn kiện bị đơn đòi quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger