|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2025/HSST
Ngày 31-12-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Đô
Ông Đồng Văn Diện
Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Thị Thùy Linh- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4- Bắc Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần trại tạm giam số 2 Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân khu vực 4- Bắc Ninh tiến hành mở phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Trọng H; sinh ngày 10/6/1978; tên gọi khác: Không
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã B, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1946 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1950; Gia đình có 06 anh, chị, em, bị cáo là thứ ba; vợ: Mai Thị C, sinh năm 1979; bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2014; tiền sự: Không.
Tiền án: 02.
-
+ Tại Bản án số 67/2014/HSST ngày 30/7/2014 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 14/3/2014; phạt bổ sung 5.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước và án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/6/2016; chấp hành xong án phí và tiền phạt bổ sung ngày 24/12/2024.
-
+ Tại Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 26/12/2023; được miễn án phí hình sự sơ thẩm; đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/2/2025.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2025 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh B có mặt tại phiên tòa.
-
-
Họ và tên: Nguyễn Đình L; sinh ngày 12/10/1993; tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã B, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đình L1, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị L2, sinh năm 1956; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa có.
Nhân thân: Tại Quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng số 125/QĐ-UBND ngày 08/11/2023 của Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã B, tỉnh Bắc Ninh) từ ngày 08/11/2023 đến ngày 08/6/2024; đã chấp hành xong Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý nơi cư trú ngày 08/6/2025.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2025 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02- Công an tỉnh B có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Phạm Đức T1, sinh năm 1963 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1973 (có mặt);
Địa chỉ: Thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
-
Chị Đỗ Thị Q, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
- Người tham gia tố tụng khác: Ông Dương Chí D- Thẩm tra viên chính- Chuyên viên tin học- Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh ( có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Trọng H và Nguyễn Đình L có quan hệ họ hàng, không có việc làm ổn định, thường xuyên sử dụng ma tuý, trong đó H có 02 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chưa được xoá án tích. Do biết nhà của ông Phạm Đức T1, sinh năm 1963, trú tại thôn V, xã B, tỉnh Bắc Ninh thường xuyên không có người trông coi tài sản nên từ ngày 20/9/2025 đến ngày 23/9/2025, H và L đã 05 lần cùng nhau sang nhà ông T1 trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua ma túy để sử dụng, cụ thể như sau:
-
* Lần thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 20/9/2025, L đi bộ đến nhà H rồi rủ H sang nhà ông T1 trộm cắp tài sản. H đồng ý rồi cùng L mang theo 01 chiếc kìm và sử dụng chiếc thuyền sắt để chèo qua ruộng bị ngập nước sang nhà ông T1. Đến nơi, H và L để thuyền sắt ở ruộng rồi đi bộ về phía nhà của ông T1 phát hiện ở trước cửa nhà có hàng rào lưới sắt B40 dài khoảng 30m, cao 1,2m. Lúc này, L dùng kìm cộng lực cắt các dây buộc các tấm lưới sắt B40 này rồi cuộn tròn tấm lưới thành 02 bó. Sau đó, L và H mỗi người bê 01 bó mang ra thuyền chèo thuyền chở về nhà H; khi về đến nhà H thì H và L dùng xe mô tô Honda Wave Alpha, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98L7-3713 phía sau gắn 01 xe kéo cải tiến (xe lôi) của chị Mai Thị C, sinh năm 1979 là vợ của H để chở 02 cuộn tấm lưới sắt trộm cắp được mang đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1973, trú tại thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh để bán. Khi bán H và L bảo tấm lưới sắt là của mình không dùng đến nên chị V đồng ý mua với giá 7.000 đồng/01 kg và cân 02 cuộn lưới B40 được 42kg rồi trả cho H và L số tiền là 294.000 đồng. Sau khi mua, chị V đã bán tấm lười này cho người qua đường không quen biết.
-
* Lần thứ hai: Buổi trưa ngày 21/9/2025, H và L đem theo 01 chiếc kìm cộng lực, 01 chiếc búa cầm tay và 01 chiếc mỏ lết rồi chèo thuyền sắt qua ruộng nước sang nhà ông T1 để trộm cắp tài sản. Đến nơi, H và L để thuyền ở ruộng rồi đi bộ về nhà dưới ông T1. Tại đây, L dùng kìm cộng lực cắt khóa rồi nhấc 02 cánh cửa chính nhà dưới được làm bằng sắt màu xám, kích thước mỗi cánh (2,16x0,59)m và có tổng khối lượng 16kg ra ngoài. Sau đó, H và L dùng búa phá mối hàn bản lề 02 cánh cửa sổ được làm bằng sắt màu xám, kích thước mỗi cánh (1,55x0,685)m và có tổng khối lượng 18,5kg ở phía đầu hồi bên trái nhà ông T1 rồi nhấc 02 cánh cửa này ra đặt xuống đất. Khi vào trong nhà, H và L phát hiện có 01 chiếc giường khung làm bằng sắt chữ V, kích thước đầu giường (0,86x1,5)m và thành giường kích thước (1,86x0,16)m thì dùng mỏ lết tháo rời ốc vít của chiếc giường này. Sau đó, H và L tiếp tục đi xuống nhà bếp ông T1 dùng kìm cắt khóa rồi nhấc 01 cánh cửa bếp được làm bằng sắt màu xám, kích thước (1,95x0,79)m nặng khoảng 20kg ra đặt xuống đất. H và L lần lượt khiêng số cánh cửa và giường sắt đã tháo rời của nhà ông T1 nêu trên ra thuyền rồi chở về nhà H và dùng xe lôi chở đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị V để bán. Khi bán H và L bảo cánh cửa, giường sắt là của mình không dùng đến nên chị V đồng ý mua với giá 7.000 đồng/01 kg rồi trả cho H và L số tiền là 620.000 đồng.
-
* Lần thứ ba: Khoảng 18 giờ ngày 22/9/2025, H và L đem theo kìm cộng lực, búa cầm tay và mỏ lết rồi chèo thuyền sắt qua ruộng nước sang nhà ông T1 để trộm cắp tài sản. Với cách làm tương tự như lần thứ 2 thì H và L trộm cắp được của ông T1 02 cửa sổ được làm bằng sắt màu xám, kích thước mỗi cánh (1,55x0,685)m và có tổng khối lượng 18,5kg ở phía đầu hồi bên phải nhà dưới; 01 cánh cổng phụ bằng sắt màu nâu đỏ, kích thước (1,55x1,25)m có khối lượng 21kg ở lối đi vào nhà dưới; 02 cánh cửa chính nhà trên được làm bằng sắt màu xám, kích thước mỗi cánh (1,985x0,495)m và tổng khối lượng 38,5kg. H và L lần lượt khiêng số cánh cửa trên ra thuyền để chở về nhà H. Khi về đến nhà, H và L dùng xe lôi chở 02 cánh cửa sổ và 01 cánh cổng phụ đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Nguyễn Thị V để bán. Khi bán H và L bảo là tài sản của mình không dùng đến nên chị V đồng ý mua với giá 7.000 đồng/01 kg rồi trả cho H và L số tiền là 620.000 đồng. Đối với 02 cánh cửa chính nhà trên, H và L3 chở đến bán tại cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Đỗ Thị Q- sinh năm 1985 ở thôn A, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Khi bán H và L bảo là tài sản của mình không dùng đến nên chị Q đồng ý mua với giá 6.500 đồng/01 kg rồi trả cho H và L số tiền là 250.000 đồng.
-
* Lần thứ tư: Khoảng hơn 10 giờ 30 phút ngày 23/9/2025, L đèm theo kìm cộng lực đi bộ sang nhà ông T1 dùng kìm cắt khóa cổng chính rồi nhấc 01 cánh cổng chính được làm bằng sắt tròn màu ghi trắng, kích thước (2,3x1,44)m nặng khoảng 44,5kg ra. Sau đó, L gọi điện cho H chèo thuyền ra dộc nước sang nhà ông T1 rồi H và L cùng khiêng cánh cổng này lên thuyền chở về nhà H. Sau khi về đến nhà thì H và L dùng xe lôi chở cánh cổng chính trộm cắp được đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị V. Khi bán H và L đều bảo là tài sản của mình không dùng đến thì chị V đồng ý mua với giá 7.000 đồng/01 kg rồi trả cho H và L số tiền là 310.000 đồng.
-
* Lần thứ năm: Khoảng chiều tối ngày 23/9/2025, H và L chèo thuyền sắt qua ruộng nước sang nhà ông T1 rồi nhấc nốt 01 cánh cổng chính được làm bằng sắt tròn màu ghi trắng kích thước (2,3x1,45)m nặng khoảng 45,5kg ra. H và L khiêng cánh cổng này lên thuyền chở về nhà H. Sau khi về đến nhà H thì L dùng máy cắt sắt cầm tay cắt cánh cổng làm đôi để lên xe lôi. Sau đó, H và L đi xe lôi chở cánh cổng chính trộm cắp được đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Q. Khi bán H và L bảo là tài sản của mình không dùng đến nên chị Q đồng ý mua với giá 6.500 đồng/01 kg rồi trả cho H và L số tiền là 295.000 đồng.
Toàn bộ số tiền bán tài sản trộm cắp có được, H đều cầm mang đi mua ma tuý của một người đàn ông không quen biết tại khu vực gầm cầu L thuộc địa phận xã L, tỉnh Bắc Ninh rồi về chia cho L, sau đó H và L đem ma tuý về tự sử dụng tại nhà ở của mình.
Ngày 24/9/2025, ông T1 phát hiện bị kẻ gian trộm cắp tài sản nên đã làm đơn trình báo Công an xã B. Cùng ngày 24/9/2025, Nguyễn Trọng H, Nguyễn Đình L đến Công an xã B đầu thú khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bản thân như đã nêu ở trên, H tự nguyện giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia. Công an xã B tiến hành xét nghiệm ma túy đối với H và L cho kết quả H và L đều dương tính với chất ma túy MOP (chất ma tuý H, M).
Cùng ngày 24/9/2025, Cơ quan điều tra tiến hành cho H và L xác định vị trí đã trộm cắp tài sản; địa điểm tiêu thụ tài sản trộm cắp. Kết quả bị cáo H và L xác định chính xác đúng vị trí trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản phù hợp với lời khai bị hại; lời khai người có quyền, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cơ quan điều tra thu giữ đồ vật, tài sản gồm:
Thu giữ tại cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Nguyễn Thị V giao nộp gồm: 01 giường bằng sắt màu nâu đỏ bị tháo dời có tổng khối lượng 34kg, 02 đầu giường có kích thước (0,86x1,5)m, 02 thành giường có kích thước (1,86x0,16)m; 02 cánh cửa nhà bằng sắt màu xám có tổng khối lượng 16kg, mỗi cánh kích thước (2,16x0,59)m; 02 cánh cửa sổ bằng sắt màu xám có tổng khối lượng 17kg, mỗi cánh kích thước (1,55x0,635)m; 02 cánh cửa sổ bằng sắt màu xám có tổng khối lượng 18,5kg, mỗi cánh có kích thước (1,55x0,685)m; 01 cánh cửa bếp bằng sắt màu xám có khối lượng 20kg, kích thước (1,95x0,79)m; 01 cánh cổng bằng sắt màu xám nâu đỏ có khối lượng 21kg, kích thước (1,55x1,25)m; 01 cánh cổng bằng sắt màu nâu đỏ có khối lượng 44,5kg, kích thước (2,3x1,44)m.
Thu giữ tại cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Đỗ Thị Q giao nộp gồm: 01 cánh cổng bằng sắt màu xám nâu bị cắt làm 02 phần có tổng khối lượng 45,5kg, một phần kích thước (1,05x1,45)m, một phần kích thước (1,25x1,45)m; 02 cánh cửa nhà bằng sắt màu xám có tổng khối lượng 38,5kg, mỗi cánh có kích thước (1,985x0,495)m.
Ngày 25/9/2025, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Trọng H thu giữ đồ vật, tài sản gồm: 01 kìm cộng lực màu xám tay nắm bằng nhựa màu đỏ; 01 búa tay cầm bằng kim loại màu xám; 01 mỏ lết màu ghi xám; 01 kìm bằng kim loại màu nâu xám có ốp tay cầm màu vàng đen; 01 đèn pin trên thân có chữ 5,5W màu ghi; 01 máy cắt điện cầm tay không rõ nhãn hiệu vỏ ngoài bằng nhựa màu đỏ đen và 01 thuyền tôn màu nâu đỏ.
Cùng ngày 25/9/2025, Cơ quan điều tra trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã B, tỉnh Bắc Ninh định giá xác định giá trị các tài sản H và L trộm cắp được của nhà ông Phạm Đức T1.
Tại kết luận định giá tài sản số 02/KL- HĐĐGTS ngày 25/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã B, tỉnh Bắc Ninh kết luận:
01 Giường bằng sắt màu nâu đỏ bị tháo dời, có tổng khối lượng 34kg, 02 đầu giường bằng sắt, có kích thước (0,86x1,5)m, 02 thành giường bằng sắt, có kích thước (1,86x0,16)m x 8.000 đồng/kg = 272.000 đồng; 02 Cánh cửa nhà bằng sắt màu xám có tổng khối lượng 16kg, mỗi cánh kích thước (2,16x0,59)m x 8.000 đồng/kg = 128.000 đồng; 02 Cánh cửa sổ bằng sắt màu xám có tổng khối lượng 17kg, mỗi cánh kích thước (1,55x0,635)m x 8.000 đồng/kg = 136.000 đồng; 02 Cánh cửa sổ bằng sắt màu xám có tổng khối lượng 18,5kg, mỗi cánh có kích thước (1,55x0,685)m x 8.000 đồng/kg = 148.000 đồng; 01 Cánh cửa bếp bằng sắt màu xám có khối lượng 20kg, kích thước (1,95x0,79)m x 8.000 đồng/kg = 160.000 đồng; 01 Cánh cổng bằng sắt màu xám nâu đỏ có khối lượng 21kg, kích thước (1,55x1,25)m x 8.000 đồng/kg = 168.000 đồng; 01 Cánh cổng bằng sắt màu nâu đỏ có khối lượng 44,5kg, kích thước (2,3x1,44)m x 8.000 đồng/kg = 356.000 đồng; 01 Cánh cổng bằng sắt màu xám nâu bị cắt làm 02 phần có tổng khối lượng 45,5kg, một phần kích thước (1,05x1,45)m, một phần kích thước (1,25x1,45)m x 8.000 đồng/kg = 364.000 đồng; 02 Cánh cửa nhà bằng sắt màu xám có tổng khối lượng 38,5kg, mỗi cánh có kích thước (1,985x0,495)m x 8.000 đồng/kg = 308.000 đồng; Lưới bằng sắt B40 có trọng lượng 42kg x 8.000 đồng/kg= 336.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 2.376.000 đồng.
Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Trọng H và Nguyễn Đình L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số 30/CT-VKS-KV4 ngày 08/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025; truy tố bị cáo Nguyễn Đình L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Trọng H từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/9/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Đình L từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/9/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, xử lý tiền án phí hình sự và tiền án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; các bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình; Lời nói sau cùng các bị cáo không có ý kiến gì.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Bắc Ninh, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa: Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra tại phiên tòa.
[2] Về căn cứ xác định hành vi của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Trong các ngày 20, 21, 22 và 23/9/2025, tại thôn V, xã B, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Trọng H và Nguyễn Đình L đã thực hiện 05 lần cắp tài sản bao gồm: 01 giường bằng sắt màu nâu đỏ bị tháo dời có tổng khối lượng 34kg, đầu giường có kích thước (0,86x1,5)m, thành giường có kích thước (1,86x0,16)m có trị giá 272.000 đồng; 02 cánh cửa nhà bằng sắt màu xám có tổng khối lượng 16kg, mỗi cánh kích thước (2,16x0,59)m, có trị giá 128.000 đồng; 02 cánh cửa sổ bằng sắt màu xám có tổng khối lượng 17kg, mỗi cánh kích thước (1,55x0,635)m, có trị giá 136.000 đồng; 02 cánh cửa sổ bằng sắt màu xám có tổng khối lượng 18,5kg, mỗi cánh có kích thước (1,55x0,685)m, có trị giá 148.000 đồng; 01 cánh cửa bếp bằng sắt màu xám có khối lượng 20kg, kích thước (1,95x0,79)m, có trị giá 160.000 đồng; 01 cánh cổng bằng sắt màu xám nâu đỏ có khối lượng 21kg, kích thước (1,55x1,25)m, có trị giá 168.000 đồng; 01 cánh cổng bằng sắt màu nâu đỏ có khối lượng 44,5kg, kích thước (2,3x1,44)m, có trị giá 356.000 đồng; 01 cánh cổng bằng sắt màu xám nâu có khối lượng 45,5kg, kích thước (2,3x1,44)m, có trị giá 364.000 đồng; 02 cánh cửa nhà bằng sắt màu xám có tổng khối lượng 38,5kg, mỗi cánh có kích thước (1,985x0,495)m, có trị giá 308.000 đồng và lưới bằng sắt B40 có trọng lượng 42kg, có trị giá 336.000 đồng. Tổng giá trị là 2.376.000 đồng của ông Phạm Đức T1, sinh năm 1963, trú tại thôn V, xã B, tỉnh Bắc Ninh.
Hành vi của Nguyễn Trọng H và Nguyễn Đình L đủ yếu tố cấu thành của tội trộm cắp tài sản. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo H, L là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm và hình phạt được quy định đối với bị cáo Nguyễn Trọng H quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Văn L4 được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Việc các bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo lợi dụng sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản nhằm phục vụ cho bản thân. Các bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục các bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Riêng bị cáo L4 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét về tính chất vụ án, vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn không có có sự phân công bàn bạc. Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo H là người cầm tiền, dùng toàn bộ số tiền bán tài sản trộm cắp được đi mua ma túy về chia rồi H và L4 tự sử dụng. Bản thân bị cáo H có nhân thân xấu phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự áp dụng mức hình phạt cao hơn bị cáo L4 trong vụ án.
Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo nêu trên. HĐXX xét thấy các bị cáo là đối tượng ma túy, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, riêng bị cáo H mới ra trại chưa được xóa án tích nay lại tái phạm nguy hiểm, chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục cải tạo nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục chung và phòng ngừa riêng.
Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Do các bị cáo bị nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Bị cáo Nguyễn Trọng H thuộc hộ cận nghèo, Nguyễn Đình L là hộ nghèo, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
Do các bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX Quyết định tạm giam các bị cáo theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự để đảm bảo thi hành án.
[4] Về các nội dung khác có liên quan đến vụ án:
Đối với chị Nguyễn Thị V và chị Đỗ Thị Q là người đã mua tấm lưới sắt; giường sắt; các cánh cửa và cánh cổng của bị cáo H và L; quá trình điều tra xác định trước, khi mua các tài sản trên chị V, chị Q1 đều không biết các tài sản này do H và L phạm tội mà có, nên không đặt ra xem xét đối chị V, chị Q.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho H tại khu vực gầm cầu L thuộc xã L, tỉnh Bắc Ninh; quá trình điều tra H khai không biết họ tên, tuổi, địa chỉ và số điện thoại cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98L7- 3713 phía sau gắn 01 xe kéo cải tiến (xe lôi) là tài sản cá nhân của chị Mai Thị C (vợ của H). Quá trình điều tra xác định chị C không biết việc bị cáo H và L trộm cắp tài sản và dùng xe lôi của chị để chở tài sản trộm cắp đi bán nên chị C không vi phạm pháp luật, cơ quan điều tra không thu giữ chiếc xe này là có căn cứ.
Đối với tấm lưới sắt B40 chị V sau khi mua của H và L đã bán cho một người không quen biết nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để thu hồi, nên HĐXX không xem xét.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra người bị hại ông T1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự; chị V, chị Q là người liên quan đều không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường dân sự. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về vật chứng: Đối với 01 giường bằng sắt màu nâu đỏ bị tháo dời (02 đầu giường có kích thước (0,86x1,5)m, 02 thành giường có kích thước (1,86x0,16)m); 02 cánh cửa nhà bằng sắt màu xám; 02 cánh cửa sổ bằng sắt màu xám; 02 cánh cửa sổ bằng sắt màu xám; 01 cánh cửa bếp bằng sắt màu xám; 01 cánh cổng bằng sắt màu xám nâu đỏ; 01 cánh cổng bằng sắt màu nâu đỏ; 01 cánh cổng bằng sắt màu xám nâu; 02 cánh cửa nhà bằng sắt màu xám do chị Nguyễn Thị V, chị Đỗ Thị Q giao nộp là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Phạm Đức T1 nên Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho ông T1 là có căn cứ, HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với 01 (một) kìm bằng kim loại màu nâu xám, ốp tay cầm màu vàng đen; 01 (một) mỏ lết màu ghi xám; 01 (một) kìm cộng lực màu xám, tay nắm bằng nhựa màu đỏ; 01 (một) búa tay cầm bằng kim loại màu xám; 01 (một) đèn pin màu ghi trên vỏ có ghi chứ 5,5W thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Trọng H xác định là tài sản các bị cáo sử dụng phương tiện, công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia (máy cũ không kiểm tra chất lượng bên trong máy); 01 (một) thuyền làm bằng tôn màu nâu đỏ; 01 (một) máy cắt cầm tay không rõ nhãn hiệu, vỏ ngoài bằng nhựa màu đỏ đen là tài sản các bị cáo sử dụng phương tiện, công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do bị cáo Nguyễn Trọng H thuộc hộ cận nghèo, Nguyễn Đình L là hộ nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của các bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng, phân tích về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo, xử lý vật chứng, án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Nguyễn Trọng H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/9/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Quyết định tạm giam Nguyễn Trọng H 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Nguyễn Đình L 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/9/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Quyết định tạm giam Nguyễn Đình L 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.
-
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) kìm bằng kim loại màu nâu xám, ốp tay cầm màu vàng đen; 01 (một) mỏ lết màu ghi xám; 01 (một) kìm cộng lực màu xám, tay nắm bằng nhựa màu đỏ; 01 (một) búa tay cầm bằng kim loại màu xám; 01 (một) đèn pin màu ghi trên vỏ có ghi chứ 5,5W.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia (máy cũ không kiểm tra chất lượng bên trong máy); 01 (một) thuyền làm bằng tôn màu nâu đỏ; 01 (một) máy cắt cầm tay không rõ nhãn hiệu, vỏ ngoài bằng nhựa màu đỏ đen.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Trọng H và Nguyễn Đình L.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 74/2025/HSST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- BẮC NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 74/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng H
