|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73/2025/HS-ST Ngày 23-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Vương, bà Cầm Thị Đoa.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2025/TLST-HS ngày 31/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 28/11/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐST- HS ngày 10/12/2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2025/QĐXXST- HS ngày 10/12/2025 đối với bị cáo:
Vũ Nam P, sinh ngày 27/11/1985 tại Huyện G; Tỉnh Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố H, xã G, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố C, xã G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Vũ Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có vợ là Vũ Thị L và 02 con; tiền án; tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Bản án số 34/2003/ST-HS, ngày 26/11/2003 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt Vũ Nam P 06 tháng tù (cho hưởng án treo) về tội trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích).
- + Bản án số 10/2010/HSST, ngày 31/3/2010 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt Vũ Nam P 9 năm tù về tội Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2025 đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971, vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 50 ngày 24/10/2024, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu phối hợp với lực lượng chức năng, làm nhiệm vụ tại khu vực bản T, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang Tráng A C, sinh năm 1992, trú tại bản P, xã L, huyện M đang có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 10 bánh hình chữ nhật bên trong chứa 300 túi nilon (trong đó 240 túi nilon màu xanh, 60 túi nilon màu hồng) trong các túi là 59.561 viên nén màu hồng, tổng khối lượng 5.956,12 gam (Kết luận giám định là Methamphetamine).
Trên cơ sở lời khai của Tráng A C, hồi 07 giờ 00 ngày 26/10/2024, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu, bắt quả tang Đặng G, sinh năm 1994, trú tại tổ 09, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình có hành vi cất giữ trái phép 01 khẩu súng rulo, 04 viên đạn màu vàng, L khai nhận là vũ khí, mang theo phòng thân khi đi gặp Tráng A C để mua ma tuý (Kết luận giám định là vũ khí quân dụng). Quá trình điều tra, L khai nhận nhiều lần giao ma túy cho Nguyễn Thị V, Phạm Đ, Vũ Nam P đi bán. Ngày 09/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Vũ Nam P, trú tại Tổ dân phố C, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định (nay là Tổ dân phố C, xã G, tỉnh Ninh Bình). Vật chứng thu giữ 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 05 viên nén màu xám (nghi là ma túy tổng hợp), 01 cân điện tử, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, tiền NHNNVN 105.300.000 đồng, 01 đĩa sứ có bám dính chất bột màu trắng, 02 ống hút được cuộn bằng tờ 10.000 đồng và 01 thẻ nhựa màu xanh đều có chất bám dính.
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 10/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định, kết quả: 05 viên nén màu xám có khối lượng 1,96 gam; trích lấy 02 viên có khối lượng 0,78 gam làm mẫu trưng cầu giám định, đánh ký hiệu P1. Toàn bộ chất bột nén màu trắng bám dính trên đĩa sứ có khối lượng 0,02 gam lấy toàn bộ làm mẫu giám định, đánh ký hiệu P2. 02 ống hút được cuộn bằng tờ 10.000 đồng và 01 thẻ nhựa màu xanh đều có chất bám dính không xác định được khối lượng.
Kết luận giám định số 546/KL-KTHS ngày 13/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu ký hiệu P1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,78 gam. Mẫu ký hiệu P2 gửi giám định, là ma túy, loại Ketamnine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,02 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,96 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine và 0,02 gam, Ketamine.
Quá trình điều tra, Vũ Nam P khai nhận:
Sáng ngày 29/4/2025, Vũ Nam P đi từ nhà lên thành phố N tìm mua đồ dùng cho con, đến nơi P thuê xe ôm do một người đàn ông tên T điều khiển. Trong quá trình nói chuyện, T hỏi P có sử dụng ma túy không? Khi biết P có sử dụng ma túy (loại Ketamine), T nói có bán ma túy dạng Kẹo. P hỏi mua 1.000.000 đồng. T nhất trí và mở cốp xe máy lấy 01 túi nilon bên trong chứa 06 viên Kẹo, một ít Ketamine cùng 01 ống hút đưa cho P. Tg nói mang về dùng thử, nếu được thì quay lại mua sau, đồng thời cho P số điện thoại để liên lạc (P không lưu lại, không nhớ số). Sau khi có ma túy, P mang về sử dụng hết số Ketamine cùng 01 viên ma túy kẹo. Số ma túy còn lại thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 09/5/2025 đối với Vũ Nam P.
Về nguồn gốc 1,96 gam loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine và 0,02 gam, Ketamine (tổng cộng 1,98 gam) thu giữ trong vụ án. Bị can khai mua của người đàn ông lái xe ôm tên T không rõ họ tên, địa chỉ, không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do thời hạn điều tra đối với Vũ Nam P đã hết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã tách hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Phương để truy tố, xét xử trước.
Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Vũ Nam P liên quan đến Tráng A C, Đặng G, Phạm Đ, Nguyễn Thị V, hiện cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra theo vụ án xảy ra ngày 24/10/2024.
Đối với Nguyễn Thị H khai nhận Hợi có cho Vũ Nam P vay số tiền 170.000.000đ, số tiền 105.000.000₫ Cơ quan Công an thu giữ của P, H xác định đúng là số tiền H đã cho P vay, tuy nhiên, hiện nay P đang bị bắt về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và bị tạm giữ nên H không đề nghị giải quyết việc vay tiền trong vụ án này.
Tại bản Cáo trạng số 08/CT- VKS ngày 27 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Vũ Nam P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Bị cáo Vũ Nam P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Vũ Nam P từ 03 năm đến 04 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 20.000đ thu giữ của bị cáo Vũ Nam P.
- - Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án gồm:
- + 01 (Một) phong bì thư một mặt phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Vũ Nam P – Tàng trữ trái phép chất ma túy. Niêm phong hồi 11 giờ 00 phút, ngày 10 tháng 5 năm 2025. Tại: Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La. Gồm có: 03 (ba) viên nén = 1,18 gam nghi ma túy tổng hợp, được ký hiệu L1”. (Theo Kết luận giám định số 546/KL-KTHS ngày 13/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thì mẫu gửi giám định ký hiệu P1 là ma túy loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine; Mẫu P2 là ma túy loại Ketamine).
- + 01 (Một) phong bì thư một mặt phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Vũ Nam P – Tàng trữ trái phép chất ma túy. Gồm có: 01 (một) chiếc đĩa sứ màu trắng; Vỏ nilon màu trong suốt để bọc gói ban đầu”.
- + 01 (Một) phong bì thư Một mặt phong bì ghi: “Hoàn lại mẫu giám định vụ Vũ Nam P, gồm 01 thẻ nhựa màu xanh và 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định đã bóc mở”.
- + 01 (Một) cân điện tử, vỏ màu đen, trên bề mặt có dòng chữ “Pocket Scale".
- - Tuyên trả cho bị cáo:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone tạm giữ của Vũ Nam P.
- + 01 (một) phong bì thư mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Vũ Nam P, bên trong gồm có: 210 (hai trăm mười) tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng); 02 (hai) tờ tiền VNĐ mệnh giá 100.000₫ (một trăm nghìn đồng); 02 (hai) tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng)”. (Theo Kết luận giám định số 567/KL-KTHS ngày 19/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thì số tiền 105.300.000VNĐ gửi giám định là tiền thật).
- Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn xin vắng mặt. Xét thấy, trong hồ sơ đã có lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Nam P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác thu giữ có nguồn gốc của bị cáo mua được của một người đàn ông không quen biết tên T với giá 1.000.000 đồng vào ngày 29/4/2025, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản khám xét ngày 09/5/2025; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện trước 0 giờ 00 phút, ngày 01/7/2025, do đó, áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vũ Nam P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng do nghiện ma túy nên ngày 09/5/2025 Vũ Nam P đã có hành vi tàng trữ 1,96 gam; loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine và 0,02 gam, Ketamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy và có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội ma túy và trộm cắp tài sản, tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục lún sâu vào con đường phạm tội.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sông xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 20.000đ thu giữ của Vũ Nam P bị cáo sử dụng làm công cụ sử dụng ma túy. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 (Một) phong bì thư một mặt phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Vũ Nam P – Tàng trữ trái phép chất ma túy. Niêm phong hồi 11 giờ 00 phút, ngày 10 tháng 5 năm 2025. Tại: Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La. Gồm có: 03 (ba) viên nén = 1,18 gam nghi ma túy tổng hợp, được ký hiệu L1”. (Theo Kết luận giám định số 546/KL-KTHS ngày 13/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thì mẫu gửi giám định ký hiệu P1 là ma túy loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine; Mẫu P2 là ma túy loại Ketamine); 01 (Một) phong bì thư một mặt phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Vũ Nam P – Tàng trữ trái phép chất ma túy. Gồm có: 01 (một) chiếc đĩa sứ màu trắng; Vỏ nilon màu trong suốt để bọc gói ban đầu”; 01 (Một) phong bì thư Một mặt phong bì ghi: “Hoàn lại mẫu giám định vụ Vũ Nam P gồm 01 thẻ nhựa màu xanh, 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định đã bóc mở” và 01 (Một) cân điện tử, vỏ màu đen, trên bề mặt có dòng chữ “Pocket Scale" thu giữ của Vũ Nam P. Xét thấy, đây là những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc diện thoại di động nhãn hiệu Iphone tạm giữ của Vũ Nam P. Xét thấy, đây là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội. Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 (một) phong bì thư mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Vũ Nam P, bên trong gồm có: 210 (hai trăm mười) tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng); 02 (hai) tờ tiền VNĐ mệnh giá 100.000₫ (một trăm nghìn đồng); 02 (hai) tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng). Xét thấy, đây là số tiền của bị cáo đi vay, không có mục đích sử dụng vào việc phạm tội. Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo.
[5] Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên Thắng đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
Đối với việc vay tiền giữa bà Nguyễn Thị H và bị cáo Vũ Nam P do không ai có yêu cầu, đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.
[6] Về án phí: Bị cáo Vũ Nam P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Nam P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vũ Nam P 03 (Ba) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 10/5/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Vũ Nam P.
- - Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án gồm:
- + 01 (Một) phong bì thư một mặt phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Vũ Nam P – Tàng trữ trái phép chất ma túy. Niêm phong hồi 11 giờ 00 phút, ngày 10 tháng 5 năm 2025. Tại: Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La. Gồm có: 03 (ba) viên nén = 1,18 gam nghi ma túy tổng hợp, được ký hiệu L1”. (Theo Kết luận giám định số 546/KL-KTHS ngày 13/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thì mẫu gửi giám định ký hiệu P1 là ma túy loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine; Mẫu P2 là ma túy loại Ketamine).
- + 01 (Một) phong bì thư một mặt phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Vũ Nam P – Tàng trữ trái phép chất ma túy. Gồm có: 01 (một) chiếc đĩa sứ màu trắng; Vỏ nilon màu trong suốt để bọc gói ban đầu”.
- + 01 (Một) phong bì thư Một mặt phong bì ghi: “Hoàn lại mẫu giám định vụ Vũ Nam P, gồm 01 thẻ nhựa màu xanh và 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định đã bóc mở”.
- + 01 (Một) cân điện tử, vỏ màu đen, trên bề mặt có dòng chữ “Pocket Scale".
- - Tuyên trả cho bị cáo:
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.
- + 01 (một) phong bì thư mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Vũ Nam P, bên trong gồm có: 210 (hai trăm mười) tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng); 02 (hai) tờ tiền VNĐ mệnh giá 100.000₫ (một trăm nghìn đồng); 02 (hai) tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng)”. (Theo Kết luận giám định số 567/KL-KTHS ngày 19/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thì số tiền 105.300.000VNĐ gửi giám định là tiền thật).
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15 tháng 10 năm 2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La với Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Nam P phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Hương |
Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 73/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 03 năm 06 tháng tù
