|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- HẢI PHÒNG Bản án số: 72/2025/HS-ST Ngày: 26/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung
-
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Lê Công Nhận- Cán bộ hưu trí.
- 2. Bà Phạm Thị Hoan- Giáo viên nghỉ hưu.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Huyền- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8- Hải Phòng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân Khu vực 8- Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Tiêu Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8- Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Lê Xuân C, sinh ngày 25/12/1998; số CCCD: 030098010950; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn T, xã H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân H và bà Lê Thị N; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 18 ngày 24/11/2020 của TAND huyện Thanh Hà đối với Lê Xuân C, thời hạn 20 tháng, chấp hành xong ngày 31/8/2022. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/8/2025, chuyển tạm giam ngày 01/9/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 02 Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa.
2. Hoàng Văn T, sinh ngày 24/4/1998; số CCCD: 030098003719; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn T, xã H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T1 và bà Phạm Thị T2; tiền án, tiền sự: không; nhân thân:
- Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường số 118 ngày 15/6/2021 của UBND xã T đối với Hoàng Văn T, thời hạn 03 tháng, chấp hành xong ngày 16/9/2021.
- Bản án số 62/2018/HSST ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà xử phạt Hoàng Văn T 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt ngày 13/5/2019. Nộp án phí và tiền khấu trừ thu nhập ngày 22/01/2019.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/8/2025, chuyển tạm giam từ ngày 01/9/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 02 Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa.
3. Đặng Ngọc S, sinh ngày 23/9/1998; số CCCD: 030098001147; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn H, xã T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn C1 và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Phạm Thị T3 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 48/2017/HSST ngày 26/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách xử phạt Đặng Ngọc S 26 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/4/2019. Nộp án phí ngày 02/11/2017. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/8/2025, chuyển tạm giam từ ngày 01/9/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 02 Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa.
4. Đặng Minh Đ, sinh ngày 31/8/2008; số CCCD: 031208001181; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Châu T4 và bà Phạm Thị H2; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 26/8/2025, chuyển tạm giam từ ngày 01/9/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 02 Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa.
- * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ: Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1982; địa chỉ: thôn Đ, xã H, thành phố Hải Phòng; có mặt
- * Người bào chữa cho bị cáo Đ: Bà Nguyễn Thị C2 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm T7; có mặt
-
* Đại diện tổ chức nơi bị cáo Đ sinh hoạt:
Người Đại diện của Đoàn thanh niên xã nơi bị cáo Đ sinh hoạt: Ông Nguyễn Thanh H3 – Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã H, Thành phố Hải Phòng (vắng mặt; có đơn trình bày ý kiến và đề nghị xử vắng mặt)
-
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Đinh Thị T5, sinh năm 1982. Địa chỉ: thôn D, xã Q, tỉnh Quảng Ninh (vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt).
-
* Người làm chứng:
Anh Nguyễn Thế T6, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Xuân C, Hoàng Văn T, Đặng Minh Đ, Đặng Ngọc S có mối quan hệ quen biết xã hội. Sáng ngày 26/8/2025 T, Đ, S đến nhà C ở thôn T, xã H, thành phố Hải Phòng chơi. Khi mọi người ngồi uống nước, C rủ mọi người mua ma túy về cùng sử dụng. S, T, Đ đồng ý. T đưa cho S 700.000 đồng, S sử dụng xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển số 14H4-1771 (xe của chị Đinh Thị T5 là chị dâu C) chở T đến khu vực đường bê tông thuộc địa phận thôn X, xã T. Sau đó S đi bộ một mình vào trong ngõ gặp một nam thanh niên tự giới thiệu tên H4. S hỏi mua được 01 túi nilon đựng ma túy đá với giá 700.000 đồng rồi đi ra ngoài đưa túi ma túy cho T cầm và S điều khiển xe máy chở T đi về nhà C. T để túi ma túy trên mặt bàn phòng khách. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, C bảo Đ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ở gầm giường phòng ngủ đi rửa. Sau khi rửa xong, S lấy túi ma túy vừa mua được đổ một phần vào trong coóng rồi cầm bật lửa châm cho C, T, Đ và S sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 đoạn thủy tinh và 1 số mảnh vỡ (do T đập vỡ coóng); 01 chai nhựa vỏ dán nhãn chữ Sting dài 21cm, đường kính 5x3cm, 01 đoạn ống hút nhựa màu đen dài 18cm, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 túi nilon màu trắng kích thước 2,5x2,5cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển số 14H4-1771.
Tại các phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy của Trạm y tế xã H ngày 26/8/2025 xác định: Lê Xuân C, Hoàng Văn T, Đặng Ngọc S, Đặng Minh Đ dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số 847/KL-KTHS ngày 31/8/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: tinh thể màu trắng bám dính trong đoạn ống thủy tinh và các mảnh thủy tinh của mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên. Tinh thể màu trắng của mẫu M2 gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,14g, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSKV8 ngày 21/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8- Hải Phòng truy tố các bị cáo Lê Xuân Công, Hoàng Văn Thanh, Đặng Ngọc S về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đặng Minh Đ về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã mô tả.
- * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) cân nhắc các tình tiết, yếu tố như người bào chữa của bị cáo Đ đã nêu để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.
- * Người bào chữa cho bị cáo Đ ý kiến: Nhất trí quan điểm luận tội của VKS về tội danh cũng như tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo Đ. Tuy nhiên xét vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Đ có vai trò sau cùng, lại là người chưa thành niên phạm tội, hoàn cảnh gia đình có bố mẹ ly hôn nhau, bố bị cáo lại bị bệnh nên bị cáo thiếu sự quan tâm chăm sóc từ gia đình. Đề nghị HĐXX cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, yếu tố nêu trên để áp dụng hình phạt 04 năm tù đối với bị cáo Đ và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì bị cáo Đ chưa thành niên.
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8- Hải Phòng giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Xuân C, Hoàng Văn T, Đặng Ngọc S, Đặng Minh Đ về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự đối với bị cáo C, T, S. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; điểm a, c khoản 1 và khoản 3 Điều 47; Điều 91 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 1 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 được Quốc Hội thông qua từ ngày 30/11/2024 đối với bị cáo Đ. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58; điểm a, c khoản 1 và khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T, C, S. Điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Xuân C từ 8 năm 3 tháng tù - 8 năm 9 tháng tù, bị cáo Hoàng Văn T từ 7 năm 9 tháng tù- 8 năm 3 tháng tù, bị cáo Đặng Ngọc S từ 7 năm 9 tháng tù- 8 năm 3 tháng tù, bị cáo Đặng Minh Đ từ 4 năm 3 tháng tù - 4 năm 6 tháng tù; thời hạn tù của các bị cáo đều tính từ ngày 26/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy phong bì và các vật chứng niêm phong trong phong bì số 847/MT/PC09 do Phòng K- công an thành phố H hoàn lại sau giám định gồm 0,06 gam ma túy, vỏ bao gói của mẫu M2; tịch thu tiêu hủy phong bì và các vật chứng niêm phong trong phong bì số 847/MT-A/PC09 do Phòng K- công an thành phố H hoàn lại sau giám định gồm 01 đoạn ống thủy tinh và các mảnh thủy tinh của mẫu M1; tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa vỏ dán nhãn chữ S1 có nắp chai màu đỏ, 01 đoạn ống hút nhựa màu đen, 01 bật lửa vỏ màu đỏ; trả lại cho chị Đinh Thị T5 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 14H4-1771 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, máy số 004051 mang tên Đinh Thị T5. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 26/8/2025, Lê Xuân C đã chuẩn bị dụng cụ; Đặng Minh Đ lấy bộ dụng cụ, Hoàng Văn T và Đặng Ngọc S chuẩn bị ma túy loại Methamphetamine, S trực tiếp dùng bật lửa ga châm dưới bầu coóng thủy tinh để C, T, S và Đ sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 255 của Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Hải Phòng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo đã tổ chức cho 03 người khác cùng sử dụng trái phép chất ma tuý với mình nên các bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo C, T, S đã tổ chức cho Đ là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi sử dụng ma túy nên C, T, S còn phải chịu tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c khản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
[3] Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó C vừa là người đề xuất, sau đó cũng là người thực hành tích cực nên C giữ vai trò chính trong vụ án. T là người ứng tiền rồi cùng S đi mua ma túy; còn S là người trực tiếp hỏi mua ma túy, tham gia vào việc chuẩn bị công cụ phục vụ việc hút ma túy, châm lửa lần lượt để C, S, T và Đ sử dụng ma túy. Vì vậy T, S là người thực hành tích cực và thuộc nhóm bị cáo giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Đ là người đi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy theo yêu cầu của C, rồi rửa coóng, cắm vào đầu nắp chai nhựa nhằm phục vụ việc hút ma túy nên Đ là người thực hành và giữ vai trò sau cùng trong vụ án. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng chất ma túy, xâm phạm tới trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Các bị cáo C, T, S đều có nhân thân xấu như đã nêu tại phần đầu của bản án, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo C, T, S. Do đó Tòa án sẽ xem xét yếu tố này khi lượng hình đối với ba bị cáo này.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Đ còn từng được trường THCS tặng giấy khen vì đã đạt danh hiệu học sinh giỏi năm học 2019-2020 nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tính đến ngày phạm tội, bị cáo Đ trên 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 91 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 119, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, được Quốc Hội thông qua từ ngày 30/11/2024.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo C, T, S đều không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định; bị cáo Đ là người chưa thành niên, lại cũng không có thu nhập ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Đặng Ngọc S khai nguồn gốc túi ma tuý là mua của một nam thanh niên tên H4. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát Camera và xác minh, truy tìm nhưng không xác định được người có tên H4 nên không có căn cứ xử lý.
Chị Đinh Thị T5 không biết S, T sử dụng xe máy của mình để đi mua ma tuý nên không có căn cứ xử lý.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Phong bì và các vật chứng niêm phong trong phong bì số 847/MT/PC09 do Phòng K- công an thành phố H hoàn lại sau giám định gồm 0,06 gam ma túy, vỏ bao gói của mẫu M2; phong bì và các vật chứng niêm phong trong phong bì số 847/MT-A/PC09 do Phòng K- công an thành phố H hoàn lại sau giám định gồm 01 đoạn ống thủy tinh và các mảnh thủy tinh của mẫu M1; 01 chai nhựa vỏ dán nhãn chữ S1 có nắp chai màu đỏ, 01 đoạn ống hút nhựa màu đen, 01 bật lửa vỏ màu đỏ là những vật chứng liên quan trực tiếp đến việc phạm tội, trong đó ma túy là vật chứng cấm lưu hành, các vật chứng khác đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 14H4-1771 và 01 giấy đăng ký xe máy số 004051 mang tên Đinh Thị T5. Xét thấy xe đó là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của chị T5, do chị T5 không biết S, T sử dụng xe để đi mua ma tuý nên cần trả lại các vật chứng này cho chị T5.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Xuân C, Hoàng Văn T, Đặng Ngọc S; điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Minh Đ. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 và khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51, Điều 91 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, được Quốc Hội thông qua từ ngày 30/11/2024 đối với bị cáo Đ.
- Tuyên bố: Các bị cáo Lê Xuân C, Hoàng Văn T, Đặng Ngọc S, Đặng Minh Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
-
Xử phạt bị cáo Lê Xuân C 8 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2025.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 7 (bảy) năm 9 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2025.
Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc S 7 (bảy) năm 9 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2025.
Xử phạt bị cáo Đặng Minh Đ 4 (bốn) năm 2 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2025.
-
Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy phong bì và các vật chứng niêm phong trong phong bì số 847/MT/PC09 do Phòng K- công an thành phố H hoàn lại sau giám định gồm 0,06 gam ma túy, vỏ bao gói của mẫu M2.
- - Tịch thu tiêu hủy phong bì và các vật chứng niêm phong trong phong bì số 847/MT-A/PC09 do Phòng K- công an thành phố H hoàn lại sau giám định gồm 01 đoạn ống thủy tinh và các mảnh thủy tinh của mẫu M1.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa vỏ dán nhãn chữ S1 có nắp chai màu đỏ, 01 đoạn ống hút nhựa màu đen, 01 bật lửa vỏ màu đỏ.
- - Trả lại cho chị Đinh Thị T5 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 14H4-1771 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, máy số 004051 mang tên Đinh Thị T5.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8- Hải Phòng).
- Các bị cáo C, T, S, Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ, người bào chữa của bị cáo Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần liên quan của bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |
Bản án số 72/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 72/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Xuân Công và Đp đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
