|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK Bản án số: 71/2025/HNGĐ-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đại Minh và bà Lê Thị Đông Nguyệt
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 175/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Lê Trọng Đ, sinh năm 1982
Địa chỉ: F A, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt - - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1982
Địa chỉ: F A, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Trọng Đ trình bày: Ông Lê Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại UBND phường H1 (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk). Thời gian đầu cuộc sống còn bình thường nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, do hai bên hay cãi vã. Từ tháng 5/2025 thì không ai còn quan tâm đến ai. Nay ông Đ vẫn còn tình cảm với bà T nhưng để giải quyết một số vướng mắc trong gia đình nên ông Đ yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T.
Về con chung: Lê Nguyễn Gia H, sinh ngày 27/01/2009 và Lê Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/12/2016. Các con muốn ở với ai tùy các con quyết định. Nếu các con ở với ông Đ thì ông Đ không yêu cầu cấp dưỡng, nếu các con ở với bà T thì ông Đ đồng ý cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng/con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T có ý kiến trình bày như sau: Bà T và ông Đ kết hôn tự nguyện và đã đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại UBND phường H1 (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk). Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông Đ đi trai gái bên ngoài về nhà gây sự, lạnh nhạt vợ con, không còn quan tâm, chăm sóc, lo lắng con cái. Mặc dù bà T cũng khuyên giải nhưng ông Đ không nghe. Ông Đ muốn ly hôn phải chứng minh bà T có vi phạm hay có lỗi gì không. Bà T vẫn còn tình cảm và vì tương lai của các con nên bà không đồng ý ly hôn. Về con chung: có 02 con chung Lê Nguyễn Gia H, sinh ngày 27/01/2009 và Lê Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/12/2016. Nếu ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi 02 con và ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con 8.000.000 đồng/tháng/hai cháu. Về tài sản chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk đã mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có đăng ký thường trú tại phường T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk thụ lý thuộc thẩm quyền.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H1, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 26/2008 ngày đăng ký 09/5/2008 nên là hôn nhân hợp pháp. Theo ông Đ trình bày, trong quá trình chung sống, hai bên hay cãi vã nên ông Đ thường xuyên phải đi sớm về muộn, nên giữa ông Đ và bà T không còn tiếng nói chung. Xét thấy, ông Đ và bà T, hiện nay vẫn sống chung nhà, giữa ông bà không xảy ra đánh nhau, bà T không vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, không có gây xung đột với ba mẹ hay anh chị em bên chồng. Mâu thuẫn vẫn chưa đến mức phải báo cáo với chính quyền địa phương. Theo lời khai của bà Lương Thị C mẹ ruột ông Đ trình bày “bà cảm thấy đau lòng và không muốn hai vợ chồng ly hôn, để cùng nhau lo cho con cái đến nơi đến chốn”. Ngoài ra, con chung của ông Đ, bà T đang trong độ tuổi vị thành niên (cháu 17 tuổi, cháu 10 tuổi), độ tuổi rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách sau này nên đây là giai đoạn hai cháu rất cần sự quan tâm, chăm sóc từ cả cha lẫn mẹ. Xét thấy mâu thuẫn giữa ông Đ, bà T có thể khắc phục được chưa đến mức trầm trọng để phải ly hôn. Do đó, yêu cầu ly hôn của ông Đ đối với bà T là không có cơ sở chấp nhận.
Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đ, nên các bên vẫn còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng với nhau về con chung, tài sản chung không giải quyết.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí HNGĐ-ST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lê Trọng Đ đối với bà Nguyễn Thị Thanh T. Ông Lê Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T vẫn còn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Về con chung, tài sản chung: Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông Lê Trọng Đ nên không giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn ông Lê Trọng Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001555 ngày 06/10/2025 của Chi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Khu vực 11 - Đắk Lắk; - Thi hành án dân sự t. Đắk Lắk; - UBND phường Tuy Hòa; - Các đương sự; - Lưu Hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Hoa Dung |
Bản án số 71/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 71/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
