Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 704/2025/DS-PT

Ngày 29-12-2025

Về việc đòi lại quyền sử dụng đất,

hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Đắc Minh

Ông Dương Anh Văn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22 và 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 89/TLPT-DS ngày 03/10/2025 về việc về việc “Đòi lại quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang (nay là Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp) bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2127/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Kim H, sinh năm 1948 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp X, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Nay là: Ấp X, xã G, tỉnh Đồng Tháp).

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1959 (có mặt);

Địa chỉ: Số B P, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (Nay là: Số B P, phường Đ, tỉnh Đồng Tháp).

2. Bị đơn:

2.1. Ông Võ Văn T1, sinh năm 1973 (có mặt);

2.2. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1974 (vắng mặt, có đơn đề nghị xử vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp G, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Nay là: Ấp G, xã G, tỉnh Đồng Tháp).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Ngọc Q – Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt);

Địa chỉ: Số A T, Khu phố B, Phường E, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (Nay là: Số A T, Khu phố B, phường G, tỉnh Đồng Tháp).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Võ Văn T2, sinh năm 1946 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp G, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Nay là: Ấp G, xã G, tỉnh Đồng Tháp).

3.2. Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang;

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);

Địa chỉ: Đường T, ấp Đ, xã G, tỉnh Đồng Thápã Gia Thuận, tỉnh Đồng Tháp.

3.3. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Tiền Giang;

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Tiền Giang: Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực X, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu phố H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

3.4. Chị Phan Kim P, sinh năm 1973 (xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp X, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Nay là: Ấp X, xã G, tỉnh Đồng Tháp).

3.5. Anh Phan Thanh B, sinh năm 1975 (xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp X, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Nay là: Ấp X, xã G, tỉnh Đồng Tháp).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn – bà Huỳnh Kim H và ý kiến trình bày của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trong quá trình tham gia tố tụng như sau:

Bà Huỳnh Kim H được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/9/1997 đối với thửa đất số 257, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.060m², loại đất LUC. Thửa đất 257 có nguồn gốc là của cha bà H là ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1903, cư ngụ: ấp X, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Từ năm 1975, cha bà H có phần ruộng và đất ở bao gồm các thửa đất do UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cha bà H canh tác thời gian Tập đoàn thì có lấy một phần diện tích đất để chia cho những hộ không có ruộng, sau khi chia rồi còn lại ba thửa là thửa 181, thửa 182 và thửa 257.

Sau khi ông M chết, bà Huỳnh Kim H là con ruột của ông M nên được quyền thừa kế 03 thửa đất nêu trên. Bà H đã được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1986 (bìa trắng), đến năm 1997 có thông báo đổi lại sổ mới (bìa đỏ) và cũng cấp lại các thửa 181, 182 và thửa 257, trong đó thửa 257 có diện tích 1.060m² là thửa đang tranh chấp.

Do bà H bận đi làm ăn xa nên có nhờ ông Võ Văn T2 là anh rể trông coi giùm nhưng sau khi tập đoàn cắt đất và trả lại cho gia đình bà H thì ông T2 chỉ giao cho bà H thửa 181, 182 còn thửa 257 ông T2 lấy canh tác không cho bà H biết, do thời gian này ông T2 là Trưởng ấp.

Đến năm 2023, bà H có đăng ký đo đạc lại ruộng đất để ủy quyền cho con thì cán bộ địa chính huyện G đo lại diện tích đất và cho bà H biết bà còn thửa đất số 257 hiện nay ông Võ Văn T1 là con của ông Võ Văn T2 canh tác.

Khi biết việc này, bà H có đến nhà yêu cầu ông T1 đo đạc lại phần đất thửa 257 của bà nhưng ông T1 không đồng ý. Sau đó bà H làm đơn nhờ tư pháp xã K hòa giải. Cán bộ xã K hỏi bà H có đồng ý bán lại thửa ruộng số 257 cho ông T1 không để ông T1 khỏi sửa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà H không đồng ý bán.

Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:

  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN14521 đối với thửa đất 523, tờ bản đồ số 36, diện tích 1.394,7m² loại đất LUC, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G cấp ngày 22/8/2023 cho ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị C.
  • Buộc ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị C trả lại cho bà H thửa đất số 257, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.060m² (nay là một phần của thửa số 523, tờ bản đồ số 36, diện tích 1.395,2m²).

Tại bản tự khai và lời khai của bị đơn - ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Thị C trong quá trình tham gia tố tụng như sau:

Nguồn gốc thửa đất 523, diện tích 1.395,2m² là ông Võ Văn T2 cha ông Triệu nhận hoán đổi với ông Nguyễn Văn D vào năm 1977, hộ ông T2 đã canh tác, sử dụng ổn định phần đất này từ năm 1977 đến nay không có ai tranh chấp và hộ ông Võ Văn T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997.

Đến năm 2015, thửa đất này được cấp giấy mới theo dự án V cho hộ ông T2. Đến năm 2023, ông T2 tặng cho con thửa đất này là vợ chồng ông Võ Văn T1. Từ khi vợ chồng ông, bà được cấp giấy chứng nhận đất xong thì bà H phát sinh tranh chấp. Khi bà H kiện vợ chồng ông, bà đến Ủy ban xã thì ông, bà mới biết một thửa đất mà cấp cho hai hộ. Khi cán bộ địa chính xã xuống xác minh thì bà H không biết vị trí thửa đất ở đâu nên việc bà H cho rằng thửa đất 257 của bà là không đúng. Hiện thửa đất 523 từ trước đến nay gia đình ông, bà đã hợp thành thửa mới, không còn bờ ranh giữa các thửa đất của gia đình.

Ông bà không đồng ý với ý kiến và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông bà có đơn phản tố yêu cầu Toà án giải quyết:

  • Công nhận cho ông, bà là chủ sử dụng phần đất diện tích 1.060m², thuộc một phần của thửa đất số 523.
  • Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00069XL do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 09/9/1997 cho hộ bà Huỳnh Kim H.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp) đã quyết định:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Kim H.

Buộc ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ trả cho hộ bà Huỳnh Kim H phần diện tích đất 1.060m², thuộc thửa 257, tờ bản đồ số 2, mục đích sử dụng 2L, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00069XL do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 09/9/1997 cho hộ bà Huỳnh Kim H.

Phần diện tích đất 1.060m² có tứ cận: Bắc giáp thửa 485 của ông T1, bà C; Nam giáp thửa 994 của ông T3; Đông giáp thửa 525 của bà Đ1; Tây giáp thửa 523 (phần còn lại) của ông T1, bà C (có sơ đồ thửa đất kèm theo).

Kiến nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN14521 cấp ngày 22/8/2023, cấp cho ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị C, thuộc thửa 523, tờ bản đồ số 36, diện tích 1.394,7m², giảm diện tích 1.060m², cho đúng diện tích thực tế sử dụng đất.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị C về việc yêu cầu công nhận cho ông, bà phần diện tích đất 1.060m² là một phần của thửa 523 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00069XL do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 09/9/1997 cho hộ bà Huỳnh Kim H.

3. Về án phí:

Ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị C phải chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013554 ngày 27/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông nên còn phải nộp tiếp số tiền là 300.000 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, quyền và nghĩa vụ thi hành án; quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 09 tháng 7 năm 2025, bị đơn – ông Võ Văn T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo; các bên đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày yêu cầu kháng cáo của bị đơn:

Bị đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, vì: Diện tích đất các bên đang tranh chấp là của cha ông T1 (ông Võ Văn T2) canh tác từ năm 1977. Sau đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào năm 2015, thuộc thửa 523, đến năm 2023 thì ông T2 tặng cho vợ chồng ông T1, bà C và ông T1, bà C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất cấp cho vợ chồng ông T1 là không thừa; 28 năm nay phía bà H không canh tác, bà H không biết đất tranh chấp ở đâu. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn mà chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ, không phù hợp với thực tế sử dụng đất.

- Bà Nguyễn Thị Thu T đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Yêu cầu kháng cáo của phía bị đơn là không có cơ sở, vì: Nguồn gốc đất tranh chấp thửa 257 là của ông Huỳnh Văn M cha bà H sử dụng từ trước năm 1975. Sau thời gian Tập đoàn còn lại ba thửa là thửa 181, thửa 182 và thửa 257. Sau khi ông M chết, bà Huỳnh Kim H được quyền thừa kế 03 thửa đất nêu trên và đã được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1986 (bìa trắng), đến năm 1997 đổi lại sổ mới (bìa đỏ) và cũng cấp lại các thửa trên, trong đó thửa 257 có diện tích 1.060m² là thửa đang tranh chấp. Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 84/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp).

Tại phần tranh luận: Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - ông Võ Văn T1 và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến, quan điểm như đã trình bày nêu trên.

Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự và về nội dung như sau:

  • + Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các bên đương sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • + Về nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng pháp luật. Phía bị đơn kháng cáo nhưng tại cấp phúc thẩm không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 84/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa phúc thẩm. Tại phiên toà, chỉ có mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thu T và bị đơn – ông Võ Văn T1, các đương sự còn lại trong vụ án vắng mặt (trong đó chỉ có chị Phan Kim P và anh Phan Thanh B có đơn đề nghị xử vắng mặt, các đương sự còn lại vắng mặt không lý do). Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự vắng mặt.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn – ông Võ Văn T1 yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T1, thấy rằng:

[2.1] Theo phía nguyên đơn – bà Huỳnh Kim H trình bày thì Thửa đất tranh chấp 257 có nguồn gốc là của cha bà H là ông Huỳnh Văn M canh tác từ năm 1975, thời gian Tập đoàn thì có lấy một phần diện tích đất để chia cho những hộ không có ruộng, sau khi chia rồi còn lại ba thửa là thửa 181, thửa 182 và thửa 257. Sau khi ông M chết, bà Huỳnh Kim H được thừa kế 03 thửa đất nêu trên. Bà H đã được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1986 (bìa trắng), đến năm 1997 có thông báo đổi lại sổ mới (bìa đỏ) và cũng cấp lại các thửa 181, 182 và thửa 257, trong đó thửa 257 có diện tích 1.060m² là thửa đang tranh chấp.

[2.2] Ngược lại, phía bị đơn – ông T1, bà C cho rằng nguồn gốc thửa đất 523, diện tích 1.395,2m² là của ông Võ Văn T2 cha ông Triệu nhận hoán đổi với ông Nguyễn Văn D vào năm 1977, hộ ông T2 đã canh tác, sử dụng ổn định phần đất này từ năm 1977 đến nay không có ai tranh chấp. Năm 2015, thửa đất này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới theo dự án V cho hộ ông T2. Đến năm 2023, ông T2 tặng cho con là vợ chồng ông Võ Văn T1 thửa đất này. Hiện vợ chồng ông T1 đang sử dụng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất 523 gia đình ông, bà đã hợp thành thửa mới, không còn bờ ranh giữa các thửa đất của gia đình.

[2.3] Xét nguồn gốc, quá trình sử dụng đất tranh chấp:

[2.3.1] Căn cứ lời khai của phía nguyên đơn – bà H và phía bị đơn – ông T1, bà C phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ có cơ sở xác định phần diện tích đất tranh chấp thửa 523 Tờ bản đồ 36, diện tích 1.394,7m² là loại đất (LUC). Từ thời điểm nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (1997) đến nay nguyên đơn không trực tiếp quản lý, sử dụng. Cho đến năm 2023, khi nguyên đơn đăng ký đo đạc lại đất thì được Cán bộ địa chính cho biết nguyên đơn còn thửa đất 257 hiện ông Võ Văn T1 đang canh tác, từ đó mới phát sinh tranh chấp.

[2.3.2] Xét lời khai của bà H cho rằng do bà bận đi làm ăn xa nên nhờ ông Võ Văn T2 là anh rể bà trông coi giùm nhưng sau khi Tập đoàn cắt đất trả lại cho gia đình bà thì ông T2 chỉ giao thửa 181,182 còn thửa 257 ông T2 lấy canh tác, không cho bà H biết. Lời khai này của phía bà H không được phía bị đơn thừa nhận, bà H cũng không có chứng cứ chứng minh việc bà nhờ ông T2 trông coi đất giùm như bà trình bày. Mặt khác, đây là đất nông nghiệp (LUC) nhưng nguyên đơn không sử dụng, không biết vị trí đất tranh chấp tại đâu, vi phạm khoản 11 Điều 38 Luật đất đai năm 2003. Trong khi đó, phần đất tranh chấp trên phía bị đơn – ông Triệu chứng M1 được gia đình ông có quá trình sử dụng, canh tác ổn định và cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào năm 1997. Năm 2015, thửa đất trên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới theo dự án V cho hộ ông T2. Đến năm 2023, ông T2 lập hợp đồng tặng cho con là vợ chồng ông T1. Đến năm 2024 mới phát sinh tranh chấp giữa bà H với ông T1. Hiện nay gia đình ông T1 vẫn đang trực tiếp sử dụng đất.

[2.3.3] Qua kết quả xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm, tại Công văn số 785/CVVPĐKĐĐ ngày 09/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G thì Hồ sơ đăng ký biến động đất đai ở các thửa 523, thửa 1877, thửa 485 mà Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp thể hiện: Thửa 1877 có diện tích 1.411m² được tách ra thành thửa 485 có diện tích 1.173,6m² (BL 144); Thửa 1877 còn diện tích 237,4m² được nhập với thửa 257 có diện tích 1.060m² mới thành thửa 523 có diện tích 1.395,2m². Diện tích có chênh lệch không đáng kể (nằm trong sai số cho phép) do thửa đất 257 cấp từ năm 1997 chưa qua đo đạt Vlap.

[2.3.4] Như vậy, phía Cơ quan có thẩm quyền chỉ cung cấp hồ sơ đăng ký biến động đất đai và thửa đất tranh chấp. Hoàn toàn không xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn hay bị đơn là đúng quy định của pháp luật đất đai. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Công văn số 785/CVVPĐKĐĐ, ngày 09/6/2025 để xác định phần diện tích đất tranh chấp 1.060m² thuộc thửa 257 do bà H đại diện hộ gia đình đứng tên được cấp từ năm 1997 là đúng quy định pháp luật; việc ông T2 được bà H nhờ canh tác đất và tự ý kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào năm 2015 đối với thửa 523 (là toàn bộ thửa 257 và một phần thửa 1877) không được sự đồng ý của hộ bà H; từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không phù hợp quy định của pháp luật. Bị đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

[3] Từ những cơ sở phân tích từ mục [2] đến mục [2.3.4], Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn – ông Võ Văn T1 và đề nghị của Luật sư, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Ý kiến của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là không có cơ sở chấp nhận.

[4] Tại phiên tòa, đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 84/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp). Như đã phân tích trên, đề nghị của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà H không được chấp nhận nhưng nguyên đơn thuộc trường hợp người cao tuổi, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Hội đồng xét xử xét miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn – ông T1 được chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị đơn - ông T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 11 Điều 38 Luật đất đai năm 2003; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn T1, sửa Bản án sơ thẩm số 84/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp).

1.1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Huỳnh Kim H về việc:

  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN14521 đối với thửa đất 523, Tờ bản đổ 36, diện tích 1.394,7m² loại đất LUC, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G cấp ngày 22/8/2023 cho ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Thị C.
  • Buộc ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ trả cho hộ bà Huỳnh Kim H phần diện tích đất 1.060m², thuộc thửa 257, tờ bản đồ số 2, mục đích sử dụng 2L, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00069XL do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 09/9/1997 cho hộ bà Huỳnh Kim H.
  • Phần diện tích đất 1.060m² có tứ cận: Bắc giáp thửa 485 của ông T1, bà C; Nam giáp thửa 994 của ông T3; Đông giáp thửa 525 của bà Đ1; Tây giáp thửa 523 (phần còn lại) của ông T1, bà C (có sơ đồ thửa đất kèm theo).

1.2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn - ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị C như sau:

  • Công nhận phần diện tích đất 1.060m² là một phần của thửa 523 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị C;
  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00069XL do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 09/9/1997 cho hộ bà Huỳnh Kim H.

1.3. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn – bà Huỳnh Kim H thuộc trường hợp người cao tuổi, được xét miễn án phí dân sự sơ thẩm.

H1 lại tiền án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) cho ông Võ Văn T1 theo Biên lai thu số 0013554 ngày 27/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn - ông Võ Văn T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. H1 lại tiền án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) cho ông Võ Văn T1 theo Biên lai thu số 0006343 ngày 14/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

3. Các phần khác của bản án sơ thẩm (về chi phí tố tụng) không có kháng cáo, kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - THADS tỉnh Đồng Tháp;
  • - Đương sự;
  • - Lưu (Án - Trúc).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Ngọc Hoa

CÁC THẨM PHÁN




Nguyễn Đắc Minh      Dương Anh Văn

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Ngọc Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 704/2025/DS-PT ngày 29/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đòi lại quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 704/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đòi lại quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger