Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29/12/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

giữa Bích và anh Đăng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Tư Duy

Các Thẩm phán nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Sửu

Ông Trần Văn Thiện

- Thư ký phiên toà: Bà Vi Thị Lan Phương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 250/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thị B, sinh năm 1997 (có đơn xin vắng mặt);

Số căn cước công dân: [...]

Nơi thường trú: Thôn L, xã P, tỉnh Bắc Ninh.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Số căn cước công dân: [...]

Nơi thường trú: Thôn L, xã P, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Cao Thị B trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn ngày 04/12/2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã P, tỉnh Bắc Ninh). Trước khi kết hôn, chị và anh Đ có thời gian tìm hiểu và tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn L, xã L. Ban đầu vợ chồng chung sống hoà thuận, đến tháng 8/2018 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã ly thân từ tháng 9/2018 cho đến nay. Từ khi sống ly thân cho đến nay chị và anh Đ không quan tâm gì đến nhau. Gia đình hai bên đã hòa giải động viên nhiều lần để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh Đ.

Về con chung: vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày 04/7/2018, hiện đang do anh Đ nuôi dưỡng. Ly hôn, chị đề nghị anh Đ trực tiếp nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị B có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Đối với anh Nguyễn Văn Đ là bị đơn trong vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng tại các buổi hòa giải, làm việc của Tòa án, anh Đ đều vắng mặt không có lý do; không trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Tại phiên tòa, anh Đ vắng mặt không có lý do.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Dương Thị L là mẹ đẻ của anh Đ xác định: Chị B và anh Đ kết hôn năm 2017, sau khi kết hôn vợ chồng về gia đình bà chung sống. Đến khoảng năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng chị B, anh Đ đã ly thân từ đó cho đến nay.

Quá trình chung sống, vợ chồng chị B, anh Đ có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày 04/7/2018. Kể từ khi vợ chồng chị B, anh Đ ly thân cho đến nay, cháu Trâm A do gia đình bà và anh Đ nuôi dưỡng, cháu phát triển tốt về mọi mặt. Nay bà đề nghị Toà án tiếp tục giao cháu Trâm A cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, gia đình bà sẽ hỗ trợ anh Đ trong việc nuôi cháu Trâm A.

Sau khi nhận các thông báo của Tòa án, bà đã giao và thông báo cho anh Đ, tuy nhiên anh Đ nói là bận công việc không đến Toà án làm việc được, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tham gia phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán: thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền, xác định mối quan hệ tranh chấp, những người tham gia tố tụng đúng, đủ; tiến hành thu thập chứng cứ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hoà giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử (HĐXX) đảm bảo về thành phần, nguyên tắc xét xử; Thư ký chấp hành đúng quyền hạn, trách nhiệm theo quy định; Bị đơn chưa chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, sau khi phân tích, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị B, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cao Thị B được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.

Về con chung: Giao cho anh Đ trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày 04/7/2018; về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến đề nghị của đương sự, Kiểm sát viên. Sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Chị B xin ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Văn Đ. Anh Đ có nơi thường trú tại thôn L, xã P, tỉnh Bắc Ninh. Như vậy, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Bắc Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án là có căn cứ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị B và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn ngày 04/12/2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã P, tỉnh Bắc Ninh) trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay, đến khoảng năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, khi xảy ra mâu thuẫn thì đã được gia đình hòa giải, khuyên bảo nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 9/2018 cho đến nay. Nay chị B xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị xin ly hôn với anh Đ. Qua xác minh tại địa phương và gia đình anh Đ đều thể hiện vợ chồng chị B, anh Đ có xảy ra mâu thuẫn và có thời gian sống ly thân từ khoảng năm 2019 cho đến nay. Như vậy, có thể thấy vợ chồng chị B, anh Đ mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị B xin ly hôn là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn gia đình để cho chị B được ly hôn với anh Đ.

[3] Về con chung: Chị B, anh Đ có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày 04/7/2018. Kể từ khi ly thân đến nay, anh Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Nay chị B đề nghị giao con chung cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Đối với anh Đ, Tòa án đã làm việc với gia đình anh Đ được biết anh Đ đang làm công nhân, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng. Khi anh Đ đi làm thì bố mẹ anh Đ trông nom, chăm sóc, đưa đón cháu Trâm A đi học và bản thân bố mẹ anh Đ cũng đề nghị Toà án tiếp tục giao con chung cho anh Đ nuôi, gia đình sẽ hỗ trợ anh Đ trong việc chăm sóc cháu. Hội đồng xét xử thấy, kể từ thời điểm vợ chồng chị B, anh Đ ly thân cho đến nay, anh Đ cùng gia đình anh đã chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trâm A phát triển tốt về mọi mặt. Để tránh làm xáo trộn cuộc sống của con chung khi ly hôn, cần giao con chung cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con, do chị B và anh Đ đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Chị B, anh Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị B phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều và khoản 1 Điều Bộ luật Tố tụng dân sự;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cao Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn Đ trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày 04/7/2018. Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét, giải quyết.

    Sau khi ly hôn, chị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Cao Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị B đã nộp theo biên lai thu số 0001923 ngày 16/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 3 – Bắc Ninh;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - UBND xã Phúc Hoà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Tư Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/HNGĐ-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – BẮC NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 70/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Bích ly hôn anh Đáng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger