TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 70/2025/HS-ST Ngày 26 tháng 12 năm 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Tý và ông Võ Thành Tâm.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Võ Hoài K, sinh ngày 19/8/1998. Nơi cư trú: tổ A, ấp T, xã Ó, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; cha không xác định và bà Hàng Thị Ngọc T, sinh năm 1972; sống như vợ chồng với Mã Ngọc H, sinh năm 2000, bị cáo chưa có con.
Tiền án: Ngày 17/9/2019, bị Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 07 năm tù, về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự, ngày 30/8/2023 chấp hành án xong.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2025 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Nguyễn Thanh Quỳnh T1, sinh năm 1975. Nơi cư trú: ấp T, xã Ó, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Văn H1, sinh năm 1985. Nơi cư trú: tổ 1, ấp T, xã Ó, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Đỗ Văn S, sinh năm 1966. Nơi cư trú: ấp T, xã Ó, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Bùi Hữu N, sinh năm 1982. Nơi cư trú: ấp M, xã V, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: Bà Hà Thị Kim O (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 10/8/2025, Võ Hoài K dẫn xe mô tô (không rõ biển số) trên Đường T do xe hết xăng thì gặp Dương Văn H1 say rượu đi bộ trên đường. K dẫn xe đi tìm chỗ đổ xăng, khi đến khu vực tổ F, ấp T, xã Ó, tỉnh An Giang, K phát hiện xe mô tô biển số 67M1-101.07 của Nguyễn Thanh Quỳnh T1 dựng cặp lề đường, chìa còn gắn vào ổ khóa xe, K rủ H1 lấy trộm xe nhưng H1 không đồng ý. K tiếp tục dẫn xe mô tô (không rõ biển số) đi trước, H1 đi bộ theo sau. Qua khỏi nơi dựng xe mô tô biển số 67M1-101.07, K quan sát không thấy người trông giữ nên kêu H1 dẫn xe mô tô (không rõ biển số) của K đi tìm chỗ đổ xăng dùm, không nói cho H1 biết ý định lấy trộm xe mô tô biển số 67M1-101.07. Sau đó, H1 dẫn xe mô tô (không rõ biển số) đi, K lén lút đi lại lấy trộm xe mô tô biển số 67M1-101.07 và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu đen, 32GB để trong cốp xe, đem về nhà trọ “Phong Phú” cất giấu rồi quay lại gặp H1 lấy xe mô tô (không rõ biển số) đổ xăng chạy về nhà trọ “Phong Phú”. Khoảng 20 giờ cùng ngày, K đem xe mô tô biển số 67M1-101.07 đến khu vực cầu K thuộc xã M, tỉnh An Giang nhờ Hiền C (không rõ họ, địa chỉ) cầm cố xe mô tô trên cho P (không rõ họ, địa chỉ) với giá 7.000.000 đồng nhưng P chưa đưa tiền và đem điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu đen, 32GB đến cửa hàng điện thoại di động “Hữu Nghĩa” bán cho Bùi Hữu N được 600.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Ngày 12/8/2025, K đến Công an xã Ó, tỉnh An Giang đầu thú khai nhận hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu đen, 32GB; 01 căn cước công dân, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 giấy phép lái xe hạng A1 cùng mang tên Nguyễn Thanh Quỳnh T1 (đã trao trả cho bị hại Nguyễn Thanh Quỳnh T1).
- - 01 quần Jean dài màu xanh; 01 áo sơ mi trắng dài tay, có sọc đỏ đen hai bên vai; 01 nón bảo hiểm kiểu nón kết bằng nhựa có nhiều lỗ trên nón, màu đỏ đen.
Tại Kết luận định giá tài sản số 907/KL-HĐĐGTS ngày 04/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thường xuyên cấp tỉnh thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh A, kết luận:
- - 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Future FI, dung tích 124,8 cm³, biển số 67M1 - 101.07, màu sơn: đen xám vàng, số máy: JC54E-0057960, số khung: RLHJC5327CY030415, trị giá 11.000.000 đồng.
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7Plus, dung lượng 32GB, màu đen, số máy: NNQM2KH/A, trị giá 1.583.333 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá là 12.583.333 đồng.
Kết luận giám định số 920/KL-KTHS ngày 20/10/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: Trích xuất 06 ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A gửi đến giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèo theo. Kèm theo kết luận giám định: 01 Phụ lục gồm 04 trang A4.
Tại Cáo trạng số 28/CT-VKSKV10, ngày 05/12/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang đã truy tố bị cáo Võ Hoài K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Hoài K khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Bị hại Nguyễn Thanh Quỳnh T1; người làm chứng Hà Thị Kim O; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Văn H1, Đỗ Văn S, Bùi Hữu N cùng trình bày phù hợp như nội dung vụ án đã nêu. Hận không bàn bạc, thỏa thuận gì trước với K về việc lấy trộm xe và cũng không tham gia lấy trộm xe cùng với K.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Hoài K từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại giá trị tài sản bị mất số tiền 11.000.000 đồng; đồng thời buộc bị cáo nộp lại tiền thu lợi bất chính 600.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước. Về hình phạt bổ sung, không. Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhất trí với bản luận tội nêu trên của đại diện Viện Kiểm sát, đồng thời không tranh luận, bào chữa gì khác. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Võ Hoài K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 20/8/2025, tại tổ F, ấp T, xã Ó, tỉnh An Giang, bị cáo Võ Hoài K đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Future FI, biển số 67M1-101.07, màu sơn: đen xám vàng, trị giá 11.000.000 đồng và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7Plus, dung lượng 32GB, màu đen, trị giá 1.583.333 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 12.583.333 đồng.
Căn cứ quy định pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo Võ Hoài K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe nhưng không chịu lo lao động để nuôi sống bản thân, giúp ích cho gia đình, ngược lại do lười lao động, muốn có tiền tiêu xài mà không phải đổ mồ hôi công sức nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án về tội Cướp tài sản chưa được xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật hạn chế; sau khi phạm tội bị cáo đầu thú; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã có một tiền án về tội Cướp tài sản chưa xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới. Điều đó thể hiện bị cáo là người xem thường pháp luật, nên cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Đối với Võ Hoài K khai nhờ Hiền C (không rõ họ, địa chỉ) cầm cố xe mô tô biển số 67M1-101.07 cho P (không rõ họ, địa chỉ), do không xác định được họ, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được.
Đối với Bùi Hữu N khi mua điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu đen, 32GB, không biết tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý.
Đối với Dương Văn H1 biết K trộm cắp mô tô biển số 67M1-101.07 nhưng không tố giác, do K phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, nên không xử lý H1 về tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tài sản bị mất là xe mô tô biển số 67M1-101.07 trị giá 11.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền này. Đối với điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus bị hại đã nhận lại nên không đề cập xem xét. Đối với số tiền 600.000 đồng, bị cáo bán điện thoại có được. Đây là số tiền thu lợi bất chính, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[8] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng liên quan đến vụ án hiện không còn giá trị sử dụng nên tuyên bố tịch thu tiêu hủy.
[9] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Hoài K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Võ Hoài K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 12/8/2025).
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Võ Hoài K có trách bồi thường cho bà Nguyễn Thanh Quỳnh T1 số tiền 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng). Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 600.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quần Jean dài màu xanh; 01 (một) áo sơ mi trắng dài tay, có sọc đỏ đen hai bên vai; 01 (một) nón bảo hiểm kiểu nón kết bằng nhựa có nhiều lỗ trên nón, màu đỏ đen. (Tất cả đã qua sử dụng) (Đặc điểm tang vật như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - An Giang)
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Hoài K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 550.000 đồng án phí dân sự trong hình sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 70/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 70/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Hoài K phạm tội Sử dụng rái phép chất ma túy
