TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TÒA PHÚC THẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 698/2025/HS-PT
Ngày: 30 - 12 - 2025
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa;
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hồng;
Ông Trần Văn Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường - Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn N - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 342/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Vương Quốc T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 555/2025/HS-ST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Vương Quốc T; sinh năm: 10/11/1980 tại Trà Vinh (nay là Vĩnh Long); nơi đăng ký thường trú: 2.02 Lô D, khu phố C, Phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là 2.02 Lô D, khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp Công an; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Vương Tấn P và bà Nguyễn Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Vương Quốc T:
Luật sư Hoàng Thị K - Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
(Trong vụ án còn có bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến việc kháng cáo nên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2022, ông Huỳnh Văn T1, cư trú tại số A đường C, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là số A đường C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng một phần Thửa đất số 2138, Tờ bản đồ số 1 thuộc xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh từ đất sản xuất lên đất thổ cư nên có trao đổi với Vương Hoàng L, nhờ Lê hỏi giúp. Sau đó, L liên hệ Trần Anh T2 (là cộng tác viên của L) thì được T2 cho biết bạn học của T2 là Vương Quốc T, hiện công tác tại Công an phường S, quận T có nhiều mối quan hệ quen biết với chính quyền địa phương nên có thể thực hiện được việc này.
Khoảng tháng 3/2022, thông qua T2 và L, T đến gặp ông T1 tại nhà ông T1 tại địa chỉ nêu trên, lúc này có mặt T2 và L, T nói với ông T1, T có khả năng thực hiện được việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo yêu cầu của ông T1 do T có quen biết nhiều lãnh đạo chính quyền huyện B nên ông T1 đồng ý nhờ T làm giúp, T nhờ T2 soạn thảo giúp T hợp đồng dịch vụ để ký với ông T1.
Ngày 03/4/2022, tại nhà ông T1, có mặt T2 và L, T và ông T1 ký “Hợp đồng dịch vụ” số 0304/2022/HĐDV, nội dung: “Chuyển mục đích sử dụng từ đất sản xuất lên đất thổ cư một phần thửa số 2138 theo QĐ số 3460/QĐ-UB ngày 11/6/2001 do UBND Thành phố ban hành”, thời gian thực hiện hợp đồng là 180 ngày kể từ ngày ký, với tổng chi phí thực hiện là 3.284.305.200 (ba tỷ hai trăm tám mươi bốn triệu ba trăm lẻ năm ngàn hai trăm) đồng được trả thành 04 đợt, gồm: Đợt 1 chuyển 985.000.000 (chín trăm tám mươi lăm triệu) đồng (tương ứng 30% hợp đồng) ngay sau khi ký hợp đồng; Đợt 2 chuyển 985.000.000 (chín trăm tám mươi lăm triệu) đồng (tương ứng 30% hợp đồng) ngay sau đo vẽ hiện trạng để thực hiện xác minh thực địa và nhu cầu sử dụng đất; Đợt 3 chuyển 656.000.000 (sáu trăm năm mươi sáu triệu) đồng (tương ứng 20% hợp đồng) sau khi cơ quan có thẩm quyền hoàn thành việc thẩm tra hồ sơ, xác minh thực địa; Đợt 4 thanh toán hết số tiền còn lại sau khi hoàn thành việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất sản xuất lên đất thổ cư.
Ngày 04/4/2022, theo hợp đồng đã ký, ông T1 nhờ con gái là Huỳnh Kim Y sử dụng tài khoản số 210014849117410 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần X (E) của Y chuyển vào tài khoản số [...] tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1) của Vương Quốc T 985.000.000 (chín trăm tám mươi lăm triệu) đồng. Nhận được tiền, T chuyển vào tài khoản số 0102893978 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (D) của T2 110.000.000 (một trăm mười triệu) đồng tiền môi giới. Số tiền còn lại T dùng trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Sau đó, T thông báo cho ông T1 đã liên hệ Công ty thực hiện lập bản đồ hiện trạng vị trí đối với thửa đất, tưởng thật nên ngày 11/5/2022, ông T1 tiếp tục nhờ chị Y, sử dụng tài khoản số 210014849117410 tại E của chị Y chuyển vào tài khoản số [...] tại V1 của T 985.000.000 (chín trăm tám mươi lăm triệu) đồng theo thỏa thuận đã ký trong hợp đồng. Nhận được tiền, T chuyển vào tài khoản số 0102893978 tại D của T2 110.000.000 (một trăm mười triệu) đồng tiền môi giới. Số tiền còn lại T dùng trả nợ và tiêu xài cá nhân mà không thực hiện bất cứ thủ tục nào liên quan đến hợp đồng đã ký với ông T1.
Ngày 25/7/2022, T thông báo Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B đang hoàn thành việc thẩm tra hồ sơ nên yêu cầu ông T1 chuyển tiền, tưởng thật ông T1 nhờ chị Y chuyển khoản cho T 656.000.000 (sáu trăm năm mươi sáu triệu) đồng như thỏa thuận đã ký trong hợp đồng.
Ngày 02/11/2022, do bị ông T1 hối thúc nên T hẹn gặp ông T1 tại 01 quán cà phê thuộc quận B. Tại đây, có mặt T2 và L, T đưa cho ông T1 xem 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS6414 do Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện B cấp ngày 01/11/2022 đứng tên ông T1. Sau khi xem Giấy chứng nhận này, T2, L và ông T1 phát hiện giấy ghi sai tên ông T1 là Huỳnh Văn T3 nên T lấy lại và nói đây là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa hoàn thiện để T yêu cầu chỉnh lý đúng nội dung rồi sẽ giao lại cho ông T1 sau.
Ngày 15/01/2023 và 07/3/2023, T viết “Giấy cam kết” với ông T1 chậm nhất hết tháng 4/2023 sẽ thực hiện xong hợp đồng, nếu sai T sẽ trả lại toàn bộ chi phí cho ông T1.
Sau đó, với lý do cần tiền để giải quyết nhanh hồ sơ, T yêu cầu ông T1 chuyển tiền. Tưởng thật, ngày 05/4/2023, 17/4/2023 và 08/6/2023, ông T1 đã chuyển khoản tổng cộng 430.000.000 (bốn trăm ba mươi triệu) đồng từ tài khoản số 210014849111024 tại Ngân hàng E của ông T1 đến tài khoản số [...] tại V1 của T.
Ngày 01/6/2023 và 18/7/2023, T thông báo cho ông T1 biết hợp đồng không thực hiện được và làm giấy cam kết đến ngày 12/8/2023 sẽ trả lại toàn bộ số tiền đã nhận cho ông T1 nhưng sau đó T không trả tiền mà né tránh không gặp mặt, nên ông T1 làm đơn tố cáo T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản Kết luận giám định số 9670/KL-KTHS ngày 29/8/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H đối với chữ ký, chữ viết trên “Hợp đồng dịch vụ” số 0304/2022/HĐDV và 04 “Giấy cam kết” ký giữa ông Huỳnh Văn T1 và Vương Quốc T vào các ngày 15/01/2023, 07/3/2023, 01/6/2023 và 18/7/2023, kết luận:
“1. Chữ ký, chữ viết họ tên Vương Quốc T trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (“HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ” số 0304/2022/HĐDV giữa Bên A: Huỳnh Văn T1 và Bên B: Vương Quốc T, đề ngày 3/4/2022) so với chữ ký, chữ viết họ tên Vương Quốc T trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 (01 “BẢN CAM KẾT” đứng tên Vương Quốc T, đề ngày 15/01/2023 (ký hiệu M1); 03 “BẢN CAM KẾT” đứng tên Vương Quốc T, đề ngày 07/03/2023 (ký hiệu M2), ngày 01/6/2023 (ký hiệu M3), ngày 18/7/2023 (ký hiệu M4) do cùng một người ký và viết ra.
2. Chữ ký đứng tên Huỳnh Văn T1 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (“HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ” số 0304/2022/HĐDV giữa Bên A: Huỳnh Văn T1 và Bên B: Vương Quốc T, đề ngày 3/4/2022) so với chữ ký đứng tên Huỳnh Văn T1 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M6 (01 (một) “BIÊN BẢN GHI LỜI KHAI” của Huỳnh Văn T1, đề ngày 28/7/2024 (ký hiệu M6) do cùng một người ký ra.
3. Chữ ký đứng tên Vương Hoàng L trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (“HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ” số 0304/2022/HĐDV giữa Bên A: Huỳnh Văn T1 và Bên B: Vương Quốc T, đề ngày 3/4/2022) so với chữ ký đứng tên Vương Hoàng L trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M5 (01 (một) “BIÊN BẢN LÀM VIỆC” về việc thu thập mẫu chữ ký của Vương Hoàng L, đề ngày 12/8/2024 (ký hiệu M5) do cùng một người ký ra”. (bút lục số 740 đến 749).
Bản Kết luận giám định số 14104/KL-KTHS ngày 05/12/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H đối với việc phục hồi, trích xuất dữ liệu lưu trữ trong 02 chiếc điện thoại di động thu giữ tại nhà Vương Quốc T, kết luận: “Với trang thiết bị và phương tiện hiện có, Phòng K1 Công an T không thể phục hồi và trích xuất dữ liệu theo yêu cầu nêu tại mục III trong 02 (hai) điện thoại di động cần giám định ký hiệu A1, A2 (đã nêu tại mục II.1)”. (bút lục số 750).
Tại Cơ quan điều tra, Vương Quốc T khai nhận: Bản thân T chỉ công tác trong lực lượng Công an nhân dân, không có thẩm quyền gì trong việc thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất nên không nắm được quy trình, cách thức thực hiện công tác này nhưng vì cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên T đã đưa ra các thông tin gian dối là làm được việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện B cho ông T1 để ông T1 chuyển cho T tổng cộng số tiền 3.056.000.000 (ba tỷ không trăm năm mươi sáu triệu) đồng. Sau đó, T chuyển cho Vương Hoàng L và Trần Anh T2 220.000.000 (hai trăm hai mươi triệu) đồng, còn 2.836.000.000 (hai tỷ tám trăm ba mươi sáu triệu) đồng T đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền này. Lời khai của T phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Ngoài ra, T còn khai: sau khi nhận tiền từ ông T1, T đã chuyển cho Trần Anh T4 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng để Anh T4 thực hiện các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông T1. Sau đó, Anh T4 đưa Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CS6414 do Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện B cấp ngày 01/11/2022 ghi tên ông Huỳnh Văn T3 (sổ giả) cho T4 để T4 đưa cho ông T1 xem vào ngày 02/11/2022. Tuy nhiên, ngoài lời khai của T4 không còn chứng cứ, tài liệu chứng minh nào khác. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã tiến hành xác minh tại nơi đăng ký thường trú của Trần Anh T4 tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh), kết quả: Anh T4 không còn cư trú tại địa phương từ năm 2017, không xác định được hiện đang ở đâu. Ngày 06/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định truy tìm người đối với Trần Anh T4, tuy nhiên chưa có kết quả (bút lục số 25 đến 29, 418).
Về trách nhiệm dân sự: Ông Huỳnh Văn T1 yêu cầu bị cáo Vương Quốc T trả lại 2.836.000.000 (hai tỷ tám trăm ba mươi sáu triệu) đồng do ông T1 đã nhận 220.000.000 (hai trăm hai mươi triệu) đồng từ Vương Hoàng L và Trần Anh T2 trả lại (bút lục số 446 đến 448).
Vật chứng thu giữ: 02 điện thoại di động (không rõ nhãn hiệu) màu đen và màu tím (thu giữ khi khám xét nhà T), quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị H (mẹ T), không liên quan đến việc phạm tội. Ngày 03/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã trả lại cho bà H theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 1480/QĐ-VPCQCSĐT-Đ4 ngày 03/6/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H (bút lục số 375, 419).
Đối với Vương Hoàng L và Trần Anh T2, quá trình điều tra xác định L, T2 không biết T lừa đảo ông T1, khi biết được sự việc đã tự nguyện nộp lại số tiền nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 555/2025/HS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố bị cáo Vương Quốc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt bị cáo: Vương Quốc T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/10/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Huỳnh Văn T1 số tiền 2.826.000.000 (Hai tỷ tám trăm hai mươi sáu triệu) đồng.
Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh giao trả lại cho bị hại số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng do gia đình bị cáo nộp để bồi thường cho bị hại thay bị cáo (theo Biên lai ký hiệu: BLTT/25E số 0004486)
Về án phí: Bị cáo phải chịu 88.520.000 (tám mươi tám triệu năm trăm hai mươi ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí hình sự và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 10 tháng 9 năm 2025, bị cáo Vương Quốc T kháng cáo xin giảm hình phạt vì cho rằng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo, là quá nặng. Đồng thời xin Tòa án cấp phúc thẩm giảm án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm hình phạt và giảm án phí dân sự sơ thẩm.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án:
Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Vương Quốc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, là đúng pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả; bị cáo có thành tích trong công tác được tặng nhiều bằng khen, giấy khen, là con gia đình cách mạng, có cậu là liệt sĩ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), đối với các bị cáo, là đúng pháp luật.
Bị cáo phạm tội nhiều lần, do đó Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Vương Quốc T 14 (mười bốn) năm tù, là có căn cứ.
Đối với kháng cáo xin giảm án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 2.826.000.000 đồng. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị cáo phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền bồi thường nêu trên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu 88.520.000 đồng, là đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, mẹ bị cáo cung cấp đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn (cha chết, mẹ già, bị cáo là con trai độc nhất, bị mắc bệnh tiểu đường, huyết áp) để xin giảm tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng xét thấy không thuộc các trường hợp được xét giảm án phí dân sự sơ thẩm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm án phí dân sự sơ thẩm của bị cáo.
Kiến nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm yêu cầu cơ quan điều tra làm rõ đối tượng Trần Anh T4 có đồng phạm với bị cáo Vương Quốc T hay không.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận các yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm nêu trên.
Luật sư trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo: Bị cáo nhận tiền làm nhiều lần nhưng do hợp đồng quy định làm nhiều lần và chỉ có duy nhất một hợp đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là không đúng. Bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; tại cấp phúc thẩm, mẹ bị cáo bồi thường thêm cho bị hại thay cho bị cáo 18.400.000 đồng, bị cáo có cậu là liệt sĩ. Đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt. Đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Bị cáo đồng ý với quan điểm bào chữa của Luật sư, không bào chữa bổ sung.
Đại diện Viện công tố và xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh trình bày quan điểm đối đáp: Để nhận tiền từng lần, bị cáo đều đưa ra thông tin gian dối. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá bị cáo phạm tội nhiều lần là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là không chính xác vì bị cáo chiếm đoạt của bị hại 3.056.000.000 đồng, mới khắc phục được 10.000.000 đồng, số tiền khắc phục là không đáng kể. Tại phiên tòa phúc thẩm, mẹ bị cáo khắc phục thêm được 18.400.000 đồng để trả cho bị hại, nhưng số tiền này cũng không đáng kể. Do đó, không có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Luật sư và bị cáo không đối đáp thêm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và giảm án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của vị đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Vương Quốc T, là hợp lệ, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2022 đến tháng 6/2023, bằng thủ đoạn gian dối, Vương Quốc T đã khiến ông Huỳnh Văn T1 tin tưởng T có khả năng thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Trên cơ sở ký hợp đồng dịch vụ, T đã chiếm đoạt của ông Tỷ số tiền 3.056.000.000 đồng.
Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vương Quốc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2]. Về hình phạt:
[2.2.1]. Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chiếm đoạt của bị hại tổng số tiền 3.056.000.000 đồng, chia làm bốn lần, trong đó ba lần có số tiền chiếm đoạt trên 500.000.000 đồng. Cụ thể: lần 1 ngày 04/4/2022, chiếm đoạt 985.000.000 đồng; lần 2 ngày 11/5/2022, chiếm đoạt 985.000.000 đồng; lần 3 ngày 25/7/2022, chiếm đoạt 656.000.000 đồng và lần 4 gồm các ngày 05/4/2023, 17/4/2023, 08/6/2023, chiếm đoạt tổng cộng 430.000.000 đồng. Mỗi lần để bị hại chuyển tiền, bị cáo đều đưa ra thông tin gian dối khác nhau: lần 1 là thực hiện theo hợp đồng như đã thỏa thuận; lần 2 bị cáo thông báo cho ông T1 đã liên hệ Công ty thực hiện lập bản đồ hiện trạng vị trí đối với thửa đất; lần 3 Tuấn thông báo Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B đang hoàn thành thẩm tra hồ sơ và lần 4 với lý do cần tiền để giải quyết nhanh hồ sơ. Quá trình điều tra, Vương Quốc T khai nhận, do cần tiền để trả nợ do chơi tiền ảo dẫn đến thiếu hụt và cần tiền để tiếp tục chơi tiền ảo, T mặc dù không làm được các thủ tục để chuyển mục đích sử dụng đất cho ông T1 nhưng đã nhiều lần đưa ra các thông tin gian dối như đã nói ở trên để yêu cầu ông T1 chuyển tiền làm nhiều lần và sau mỗi lần nhận được tiền của bị hại, bị cáo không sử dụng số tiền nhận được vào mục đích chuyển mục đích sử dụng đất cho ông T1 mà dùng số tiền chiếm đoạt được của ông T1 để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Từ những phân tích trên cho thấy, bị cáo phạm tội nhiều lần nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có thành tích trong công tác được tặng nhiều bằng khen, giấy khen; là con gia đình cách mạng, có cậu là liệt sĩ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đối với bị cáo, là có căn cứ.
Tại cấp sơ thẩm, bị cáo đã tác động gia đình nộp bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho bị hại. Xét thấy, so với số tiền mà bị cáo chiếm đoạt thì số tiền bị cáo bồi thường cho bị hại là không đáng kể. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo, là không chính xác. Tuy nhiên, do không có kháng cáo, kháng nghị về tình tiết giảm nhẹ này, nên để không làm xấu đi tình trạng của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cần phải rút kinh nghiệm.
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, quyết định mức hình phạt 14 (mười bốn) năm tù, là đã thể hiện sự khoan hồng đối với bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị H cung cấp biên lai thể hiện bà H đã khắc phục hậu quả thay cho bị cáo là 18.400.000 đồng. Đây là tình tiết mới xuất hiện tại giai đoạn xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên, số tiền bồi thường thêm không đáng kể so với số tiền bị cáo phải có trách nhiệm trả cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ ghi nhận việc bà H tự nguyện thay cho bị cáo trả cho bị hại 18.400.000 đồng, chứ không coi đây là tình tiết mới để làm căn cứ giảm hình phạt đối với bị cáo.
Từ những phân tích trên xét thấy, mặc dù bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, không đủ điều kiện để áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo và quan điểm của Luật sư xin giảm hình phạt cho bị cáo; giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.
[2.2.2]. Xét kháng cáo xin giảm tiền án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 2.826.000.000 đồng. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền bồi thường nêu trên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu 88.520.000 đồng, là đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, mẹ bị cáo cung cấp đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn (cha chết, mẹ già, bị cáo là con trai độc nhất, bị mắc bệnh tiểu đường, huyết áp), tuy nhiên bị cáo không thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo và các trường hợp miễn, giảm án phí theo quy định tại Điều 12 và Điều 13 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo.
[3]. Quan điểm của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh, được chấp nhận.
[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[5]. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục điều tra làm rõ Trần Anh T4 có đồng phạm đối với Vương Quốc T hay không.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 và Điều 343, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vương Quốc T.
2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 555/2025/HS-ST ngày 08 - 9 - 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
2.1. Tuyên bố bị cáo Vương Quốc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2.2. Xử phạt bị cáo Vương Quốc T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/10/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Vương Quốc T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Huỳnh Văn T1 số tiền 2.826.000.000 (Hai tỷ tám trăm hai mươi sáu triệu) đồng.
Ghi nhận tại cấp phúc thẩm, bà Nguyễn Thị H bồi thường cho bị hại Huỳnh Văn T1 thay cho bị cáo 18.400.000 đồng theo Biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/25E, số 0006014 do Thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/9/2025. Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại ông Huỳnh Văn T1 số tiền 2.807.600.000 (Hai tỷ tám trăm lẻ bảy triệu sáu trăm nghìn) đồng.
Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh giao trả lại cho bị hại số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng (theo Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/25E số 0004486 do Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/9/2025) và 18.400.000 (mười tám triệu bốn trăm ngàn) đồng (theo Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/25E số 0006014 do Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/9/2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).
4. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục điều tra làm rõ Trần Anh T4 có đồng phạm đối với Vương Quốc T hay không.
5. Về án phí:
5.1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
5.2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 88.520.000 (tám mươi tám triệu năm trăm hai mươi nghìn) đồng.
5.3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Vương Quốc T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hòa |
Bản án số 698/2025/HS-PT ngày 30/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 698/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
