|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 698/2025/HSPT Ngày: 30/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hương
Các thẩm phán: Bà Đào Thị Kiều Vân
Bà Đỗ Thị Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Trìu A Sám – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 262/2025/TLPT-HS ngày 20 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Lê Tất Hoài A do có kháng cáo của bị cáo Lê Tất Hoài A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án khu vực 6 – Đồng Nai).
Bị cáo kháng cáo: Lê Tất Hoài A, sinh ngày 18/02/1986 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố D, thị trấn G, huyện X (nay là xã X), tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tất H, sinh năm 1959 và bà Trần Thị L, sinh năm 1965; Vợ: Cao Hoàng Nhật L1, sinh năm 1988; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại (Có mặt).
Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Lê Tất Hoài A: Ông Dương Hoài V và bà Nguyễn Thu H1 - Luật sư Công ty L9, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
Địa chỉ: C M, phường Đ, Quận A (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ khoảng cuối năm 2016 đến năm 2020, Lê Tất Hoài A đã ký hợp đồng lao động với các Công ty cung cấp dịch vụ thuê lại lao động và được phân công làm việc tại Phòng bán hàng X thuộc Trung tâm K1 với các chức danh khác nhau, theo hợp đồng thuê lại lao động hàng năm giữa Trung tâm K1 với các Công ty cung cấp dịch vụ thuê lại lao động. Cụ thể:
- Theo hợp đồng lao động số 36/HĐLĐ TTKĐNI/2019 ngày 01/10/2019 của Công ty Cổ phần N4 với Lê Tất Hoài A có thời hạn 01 năm thì Hoài A được phân công làm việc tại Phòng bán hàng Xuân Lộc với chức danh “Nhân viên kinh doanh địa bàn”, thực hiện các nhiệm vụ sau: Tìm kiếm khách hàng, tiếp thị, bán hàng tại địa bàn được phân công; Truyền thông, giới thiệu, tư vấn sản phẩm dịch vụ tới khách hàng mục tiêu; Tham gia các chương trình bán hàng lưu động do đơn vị chủ quản tổ chức; Thực hiện khai báo thông tin thuê bao theo quy định; Mua hàng và nộp tiền theo đúng quy định; Cập nhật thông tin khách hàng; Chăm sóc khách hàng sau bán, giải quyết sự cố khiếu nại: theo dõi các biến động về doanh thu khách hàng để chăm sóc, duy trì, giữ chân khách hàng; Báo cáo, thu thập và cập nhật thông tin về đối thủ cạnh tranh, về khả năng phát triển dịch vụ và nhu cầu khách hàng trong địa bàn được phân công; Phát triển, chăm sóc kênh bán hàng tại địa bàn phụ trách; Thực hiện các nhiệm vụ khác được phân công.
- Theo hợp đồng lao động số 36.156.KDÐN/HĐLĐ-CKV-NNL ngày 01/10/2020 của Công ty Cổ phần C5 với Lê Tất Hoài A có thời hạn 01 năm thì Hoài A được phân công làm việc tại Phòng bán hàng X, với chức danh “Nhân viên quản lý địa bàn và bán hàng trực tiếp”, thực hiện các nhiệm vụ sau:Triển khai kế hoạch chăm sóc khách hàng, tổ chức các chương trình bán hàng trực tiếp tại địa bàn theo phân công quản lý trực tiếp; Tham gia công tác thu cước, thu nợ, chăm sóc khách hàng; Tư vấn, bán sản phẩm dịch vụ mới trên tệp khách hàng phụ trách; Tổ chức các hoạt động bán hàng; hỗ trợ, phối hợp với các kênh bán hàng triển khai kế hoạch bán hàng tại địa bàn phụ trách; Nắm bắt tình hình thị trường địa bàn phụ trách: tiếp nhận, khảo sát, điều tra thông tin về thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, kịp thời báo cáo quản lý và tham mưu các chính sách phù hợp nhằm phát triển thị phần, tăng doanh thu; Quản lý hàng hóa phục vụ bán hàng, chăm sóc khách hàng được giao; Outbound chăm sóc khách hàng, tư vấn giới thiệu sản phẩm dịch vụ trên tệp khách hàng được giao; Phối hợp với kỹ thuật địa bàn cung cấp dịch vụ cho khách hàng tại địa bàn phụ trách; Triển khai các chính sách bán hàng trên kênh trực tiếp của Trung tâm kinh doanh; Phối hợp với phòng bán hàng doanh nghiệp, trực tiếp truyền thông, tiếp thị bán hàng đối với khách hàng doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan,... trên địa bàn; Báo cáo chi hoa hồng và cập nhật số liệu lên hệ thống; Phối hợp giải quyết khiếu nại theo phân cấp; Quản lý, tổ chức lưu trữ hồ sơ và cơ sở dữ liệu khách hàng, hợp đồng khách hàng; Hỗ trợ khai báo cập nhật hồ sơ, thông tin khách hàng; Thực hiện báo cáo cho cấp trên theo quy định; Thực hiện các nhiệm vụ khác do Lãnh đạo phân công.
Đến khoảng cuối năm 2019, công việc kinh doanh cá nhân thua lỗ dẫn đến nợ tiền của nhiều người, do cần tiền để trả nợ nên Lê Tất Hoài A đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của những khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông VNPT và những khách hàng đang sử dụng dịch vụ của K1 thông qua các hoạt động ký hợp đồng cung cấp sử dụng dịch vụ viễn thông VNPT cho khách hàng mới, gia hạn và nâng gói cước dịch vụ viễn thông của K1 cho khách hàng đang sử dụng dịch vụ viễn thông của VNPT khi khách hàng có nhu cầu.
Đối với quy trình tiến hành ký hợp đồng cung cấp sử dụng dịch vụ viễn thông VNPT cho khách hàng mới được quy định như sau: Khách hàng mới là khách hàng chưa sử dụng dịch vụ viễn thông của K1 và được phân chia thành 02 dạng gồm: Khách hàng tại địa bàn đã có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng lắp đặt của K1 và khách hàng tại địa bàn chưa có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng lắp đặt của K1. Khi tiến hành ký hợp đồng với khách hàng tại địa bàn đã có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng lắp đặt của VNPT thì nhân viên quản lý địa bàn được phép thu tiền cước phí trả trước gói 06 tháng, 12 tháng hoặc 24 tháng của khách hàng ngay sau ký hợp đồng và trong vòng 03 ngày phải tiến hành lắp đặt thiết bị, nghiệm thu cho khách hàng sử dụng dịch vụ. Sau khi nghiệm thu, nhân viên quản lý địa bàn phải trực tiếp nộp tiền hợp đồng thu của khách hàng về tài khoản của Trung tâm kinh doanh VNPT trong thời hạn 01 ngày. Khi tiến hành ký hợp đồng với khách hàng tại địa bàn chưa có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng lắp đặt của K1 thì nhân viên quản lý địa bàn phải lập danh sách khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông của K1 rồi báo về Phòng bán hàng để đề xuất Trung tâm viễn thông tiến hành khảo sát, lắp đặt, xây dựng cơ sở hạ tầng. Sau khi cơ sở hạ tầng hoàn thiện, nhân viên quản lý địa bàn mới được phép ký hợp đồng và thu tiền cước phí trả trước gói 06 tháng, 12 tháng hoặc 24 tháng của khách hàng và trong vòng 03 ngày phải tiến hành lắp đặt thiết bị, nghiệm thu cho khách hàng sử dụng dịch vụ. Sau khi nghiệm thu, nhân viên quản lý địa bàn phải trực tiếp nộp tiền hợp đồng thu của khách hàng về tài khoản của Trung tâm K1 trong thời hạn 01 ngày theo quy định.
Đối với khách hàng có nhu cầu nâng gói cước dịch vụ hoặc khách hàng có nhu cầu thay đổi tên người dùng dịch vụ viễn thông của K1, thì nhân viên quản lý địa bàn tiến hành làm hợp đồng nâng gói dịch vụ hoặc thay đổi tên người dùng dịch vụ và thu tiền của khách hàng, rồi nộp hợp đồng và tiền về cho Giao dịch viên của Phòng bán hàng để nhập thông tin hợp đồng lên hệ thống và đóng tiền về Trung tâm Kinh doanh K1 trong thời hạn 03 ngày.
Từ khoảng đầu năm 2020 đến ngày 01/12/2020, Hoài A đã lợi dụng công việc với chức danh là “Nhân viên kinh doanh địa bàn” của Phòng bán hàng Xuân Lộc thuộc Trung tâm K1, đến nhà nhiều hộ dân trên địa bàn thị trấn G, các xã X, X, S, Suối C, Xuân T và X của huyện X, để tư vấn, thuyết phục khách hàng ký hợp đồng mới, hợp đồng nâng gói cước dịch vụ và thu tiền cước phí trả trước dịch vụ viễn thông của K1 chiếm đoạt tổng số tiền 158.450.800 đồng. Cụ thể:
- Lê Tất Hoài A đã tiến hành ký hợp đồng với 11 khách hàng mới tại địa bàn đã có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng lắp đặt của K1 và thu tiền cước phí trả trước gói 12 tháng của khách hàng. Sau khi nghiệm thu, Lê Tất Hoài A chỉ nhập đóng tiền cước phí gói 06 tháng về Trung tâm K1, số tiền cước phí 06 tháng còn lại Lê Tất Hoài A không nộp về Trung tâm K1 mà chiếm đoạt với tổng số tiền là 18.322.800 đồng, gồm của bà Huỳnh Thị Ngọc T1 số tiền 1.614.000 đồng; của ông Huỳnh Thanh V1 số tiền 1.502.400 đồng; của bà Chiêu Ngọc P số tiền 1.614.000 đồng; của bà Nguyễn Thị Trúc L2 số tiền 1.614.000 đồng; của bà Nguyễn Thị H2 số tiền 1.614.000 đồng; của ông Nguyễn Văn Q số tiền 1.878.000 đồng; của ông Hoàng Đình K số tiền 1.878.000 đồng; của ông Nguyễn Văn T2 số tiền 1.502.400 đồng; của ông Phí Công M số tiền 1.878.000 đồng; của ông Trần Duy T3 số tiền 1.614.000 đồng; của chị Trần Tuyết N số tiền 1.614.000 đồng.
- Lê Tất Hoài A đã tiến hành lập hợp đồng, thu tiền cước phí trả trước của 03 khách hàng có nhu cầu nâng gói cước dịch vụ và 02 khách hàng có nhu cầu thay đổi tên người dùng và nâng gói cước dịch vụ viễn thông của K1 nhưng không nộp hợp đồng và tiền về cho Giao dịch viên của Phòng bán hàng để nhập thông tin hợp đồng lên hệ thống và đóng tiền về Trung tâm K1 theo quy định để chiếm đoạt toàn bộ số tiền thu được của khách hàng là 15.625.600 đồng, gồm của ông Đặng Anh L3 số tiền 3.004.800 đồng; của ông Lê Sĩ D số tiền 1.354.000 đồng; của bà Phạm Thị H3 số tiền 1.502.400 đồng; của bà Lê Thị Tuyết H4 số tiền 8.262.000 đồng; của ông Nguyễn Văn C1 số tiền 1.502.400 đồng.
- Lê Tất Hoài A cũng đã tiến hành ký hợp đồng và thu tiền cước phí trả trước gói 06 tháng hoặc 12 tháng của 56 khách hàng tại địa bàn chưa có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng lắp đặt của K1 mà không lập danh sách khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông của VNPT báo về Phòng bán hàng để đề xuất Trung tâm viễn thông tiến hành khảo sát, lắp đặt, xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn thiện rồi mới ký hợp đồng với khách hàng theo quy trình đã quy định để chiếm đoạt toàn bộ số tiền của các khách hàng là 124.502.400 đồng. Cụ thể:
Lê Tất Hoài A đã chiếm đoạt của ông Hồ Thanh B số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn T4 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Đỗ Văn N1 số tiền 3.004.800 đồng; chiếm đoạt của ông Lê Tấn Đ số tiền 3.004.800 đồng; chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn G số tiền 3.000.000 đồng; chiếm đoạt của ông Võ Hồng H5 số tiền 3.004.800 đồng; chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Kim H6 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn H7 số tiền 3.004.800 đồng; chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn L4 số tiền 3.228.000 đồng; chiếm đoạt của ông Nguyễn Bá N2 số tiền 3.004.800 đồng; chiếm đoạt của ông Trần Lê T5 số tiền 3.004.800 đồng; chiếm đoạt của bà Tsần Chu H8 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Lý Mần C2 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Trần Thị T6 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của bà La Thị S số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của bà Trần Thị Q1 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Phạm Văn T7 số tiền 3.004.800 đồng; chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn L5 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Phùng Đức H9 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Trần H10 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Lê Bá Thông S1 tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của bà Lê Thu H11 số tiền 3.004.800 đồng; chiếm đoạt của ông Trần Duy H12 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Phùng Văn L6 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Tạ Hoàng D1 số tiền 6.456.000 đồng; chiếm đoạt của ông Trần Đức M1 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Hồ Trọng T8 số tiền 3.004.800 đồng; chiếm đoạt của ông Phạm Quốc T9 số tiền 3.588.000 đồng; chiếm đoạt của ông Huỳnh Văn Đ1 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của bà Cao Mộng T10 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông C3 Chủ Vồ số tiền 1.502.400 đồng; đã chiếm đoạt của ông Chí Vòng D2 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Chu Thành Đ2 số tiền 3.004.800 đồng; chiếm đoạt của bà Lương Thị M2 số tiền 3.228.000 đồng; chiếm đoạt của ông Nguyễn Đức D3, số tiền 3.228.000 đồng; chiếm đoạt của bà Ngô Thị T11 số tiền 3.228.000 đồng; chiếm đoạt của ông Lê Văn T12 số tiền 3.228.000 đồng; chiếm đoạt của bà Phạm Thị T13 số tiền 3.228.000 đồng; chiếm đoạt của ông Ngô Ngọc C4 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Lê Minh T14 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Trần Đức T15 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Trần Minh L7 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Xuân P1 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của Phan Văn Q2 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị X số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Huỳnh Văn T16 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Thu S2 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Đinh Hoàng T17 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Trần Văn H13 số tiền 3.228.000 đồng; chiếm đoạt của bà Hoàng Thị N3 số tiền 3.000.000 đồng; chiếm đoạt của ông Huỳnh Văn Đ1 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của bà Ngô Thùy T18 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Huỳnh Công V2 số tiền 6.009.600 đồng; chiếm đoạt của ông Nguyễn Ngọc T19 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Trần Hữu H14 số tiền 1.502.400 đồng; chiếm đoạt của ông Lê Văn T20 số tiền 3.004.800 đồng.
Ngày 18/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã văn bảnđề nghị Trung tâm Kinh doanh K1 đánh giá, giải thích quy trình công tác đối với nhiệm vụ mà ông Phạm Tấn P2 - Giám đốc Phòng bán hàng Xuân L8 đã giao cho Lê Tất Hoài A và việc quản lý các loại mẫu giấy tờ hợp đồng có đúng quy định không?
Ngày 31/8/2022, Trung tâm K1 có văn bản số 1456/TTKD ĐNI-NSTH phúc đáp như sau:
- Căn cứ Bộ Quy trình cung cấp dịch vụ Quyết định số 87/QĐ-TĐD-VNPT-ĐNI ngày 31/03/2017, quy trình bán hàng gồm các bước: Tiếp nhận yêu cầu – Kiểm tra năng lực mạng lưới - Tư vấn gói cước- Lập hợp đồng - In và hoàn thiện hợp đồng. Trong đó bước kiểm tra năng lực là bước phải thực hiện đầu tiên để kiểm tra khả năng cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Việc nâng gói hoặc thay đổi tên cho người dùng đều phải lập phụ lục hợp đồng.
- Tiếp theo, khi lập hợp đồng, giao dịch viên/nhân viên kinh doanh/cộng tác viên phải thực hiện nhập thông tin khách hàng trên hệ thống, hướng dẫn khách hàng thanh toán, sau đó hoàn thiện các thủ tục để Trung tâm kinh doanh kí kết và hoàn thiện hợp đồng cho khách hàng. Đối với hợp đồng giấy, khi hoàn thiện hợp đồng cần đảm bảo đầy đủ: Đúng bộ mẫu hợp đồng được ban hành; Trong hợp đồng phải ghi đủ thông tin các bên và đủ chữ ký, con dấu của: Khách hàng, Nhân viên kinh doanh/Nhân viên giao dịch và đại diện Trung tâm kinh doanh.
- Căn cứ quy định nêu trên, việc phân công công việc của ông Phạm Tấn P2 - Giám đốc Phòng bán hàng Xuân L8 đã giao cho nhân viên Lê Tất Hoài A là phù hợp với quy định của đơn vị, nhân viên Lê Tất Hoài A có trách nhiệm phải tuân thủ nhiệm vụ được giao và các quy định về quy trình nghiệp vụ do Tổng Công ty D4 và đơn vị quy định.
- Để đáp ứng nhu cầu thực tế, số lượng khách hàng cá nhân có nhu cầu ký kết hợp đồng rất lớn, khoảng cách di chuyển giao dịch xa; thêm vào đó, khách hàng luôn có nhu cầu được cung ứng dịch vụ ngay, do đó, để hỗ trợ tốt nhất cho khách hàng, Đơn vị thực hiện ký trước hợp đồng và giao cho giao dịch viên/nhân viên kinh doanh hoàn thiện phần ký Khách hàng đúng với quy định tại QĐ 87/QĐ-TÐD-VNPT-ĐNI. Để đảm bảo không để xảy ra sai sót, Đơn vị đã ban hành văn bản số 183/TTKD ĐNI-ĐHNV ngày 17/02/2020, trong đó quy định các bộ mẫu hợp đồng cho từng loại dịch vụ, không áp dụng lẫn lộn. Đối với dịch vụ Internet, bộ mẫu hợp đồng phải bao gồm: Hợp đồng, điều khoản chung của hợp đồng, biên bản nghiệm thu và phải được lưu trữ, đánh số trên hệ thống phần mềm để theo dõi. Đối với việc thu tiền khách hàng, Đơn vị đã quy định tại văn bản số 2042/QĐ/TTKD/TCKT: Khi thu tiền mặt khách hàng phải xuất biên nhận theo mẫu của đơn vị. Các biên nhận thu tiền được đánh số theo dõi và quản lý chặt chẽ.
- Đơn vị thường xuyên kiểm tra, giám sát, bảo đảm quản lý hợp đồng cấp phát, hợp đồng đã ký kết với khách hàng và các chứng từ thu tiền bằng các quy định đã nói ở trên. Đồng thời, đơn vị cũng đã quy định nhiệm vụ quản lý hợp đồng cho Giám đốc Phòng bán hàng trong quyết định ban hành chức năng nhiệm vụ. Việc tùy ý sử dụng và không quản lý hợp đồng là không đúng quy định của đơn vị.
- Với việc sai phạm của nhân viên Lê Tất Hoài A là hành vi cố ý, che giấu nhằm mục đích chiếm đoạt nên khó khăn trong việc phòng ngừa.
Với vai trò là Giám đốc Phòng bán hàng X, ông Phạm Tấn P2 có trách nhiệm quản lý, giám sát, điều hành tất cả hoạt động của Phòng bán hàng trong đó có công tác tiếp nhận, quản lý, cấp phát các loại chứng từ, biên nhận, hóa đơn, mẫu hợp đồng do Trung tâm K1 phát hành, cấp cho Phòng bán hàng sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ.
+ Đối với các loại hóa đơn, biên nhận, chứng từ thu tiền khách hàng, ông P2 đã thực hiện theo đúng quy định của Trung tâm Kinh doanh K1 về việc quản lý, giám sát, kiểm soát việc sử dụng các loại chứng từ thu từ thu tiền khách hàng và đã phối hợp với Kế toán chuyên quản của Trung tâm Kinh doanh K1 theo quy định, không để xảy ra việc nhân viên sử dụng các chứng từ thu tiền chiếm dụng tiền của khách hàng.
+ Đối với các mẫu hợp đồng, ông P2 đã giao cho nhân viên thủ kho của Phòng bán hàng Xuân Lộc là ông Phan Thanh G1 quản lý, cấp phát các mẫu hợp đồng cho bộ phận bán hàng sử dụng, nhưng không thường xuyên kiểm tra, giám sát, kiểm soát số lượng mẫu hợp đồng nhân viên đã nhận và sử dụng, dẫn đến Lê Tất Hoài A đã lợi dụng, sử dụng các mẫu hợp đồng để thu tiền, chiếm đoạt tiền của nhiều khách hàng. Việc không thường xuyên kiểm tra, giám sát, kiểm soát số lượng mẫu hợp đồng là do đặc thù công việc của Hoài A trực tiếp xuống địa bàn khảo sát, tìm kiếm khách hàng, không thể xác định được trước số lượng khách hàng sẽ đăng ký sử dụng dịch vụ của VNPT nên không biết trước được số lượng hợp đồng sẽ sử dụng để cấp phát cho Hoài A và quản lý theo đúng số lượng cần sử dụng. Mặt khác, mẫu hợp đồng in trên giấy A4 rời, không đóng quyển, không in sẵn mã số hợp đồng nên rất khó khăn trong việc quản lý theo dõi. Trong khi phía Trung tâm K1 vẫn chưa có văn bản hướng dẫn, quy định cụ thể về quy trình quản lý các loại mẫu giấy hợp đồng giống như đã ban hành quy trình quản lý chứng từ thu tiền khách hàng nêu trên. Từ những vấn đề trên, dẫn đến quản lý lỏng lẻo, không khoa học, không theo một quy trình nhất định, khó khăn trong việc kiểm soát, giám sát số lượng hợp đồng nhân viên sử dụng.
Đối với Lê Tất Hoài A được phân công nhiệm vụ là nhân viên địa bàn thì Hoài A được ký hợp đồng với khách hàng mới tại địa bàn đã có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng lắp đặt của K1 và thu tiền cước phí trả trước gói 12 tháng của khách hàng cũng nhưtiến hành lập hợp đồng, thu tiền cước phí trả trước của khách hàng có nhu cầu nâng gói cước dịch vụ của K1.
Đối với các khách hàng chưa có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng lắp đặt của K1, Hoài A không lập danh sách khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông của VNPT báo về Phòng bán hàng để đề xuất Trung tâm viễn thông tiến hành khảo sát, lắp đặt, xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn thiện rồi mới ký hợp đồng với khách hàng mà Hoài A tự ý thu tiền trước của các khách hàng này là sai quy định.
Vật chứng vụ án: 61 (Sáu mươi mốt) hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông.
Trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị L (là mẹ của Lê Tất Hoài A) đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về dân sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai) quyết định: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm c và d khoản 2 Điều 355 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Tất Hoài A phạm các tội: “Tham ô tài sản” và “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Tất Hoài A 07 (B1) năm tù 06 (S3) tháng tù về tội: “Tham ô tài sản” và 06 (Sáu) năm 06 (S3) tháng tù về tội: “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Ngày 14/02/2025, bị cáo Lê Tất Hoài A có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
Lý do: Kháng cáo oan sai đối với 2 tội danh “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” và “Tham ô tài sản”. Đồng thời, đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố, xét xử bị cáo về tội: “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản".
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo không nộp chứng cứ mới.
* Ý kiến của Luật sư Dương Hoài V bào chữa cho bị cáo Lê Tất Hoài A:
Đối với hành vi Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của Lê Tất Hoài A: Căn cứ lời khai của ông Phạm Tấn P2 (tại các bút lục 40, 761, 784, 168, 169) thì ông P2 đều khai Lê Tất Hoài A được phép ký hợp đồng, ghi phiếu thu, thu tiền từ khác hàng nên Lê Tất Hoài A không có hành vi vượt quá quyền hạn. Do đó, hành vi của Lê Tất Hoài A không cấu thành tội: “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.
Đối với hành vi Tham ô tài sản: Lê Tất Hoài A không chiếm đoạt tài sản do mình quản lý nên không đáp ứng điều kiện về mặt khách quan và chủ thể của tội tham ô tài sản. Về mặt khách thể: số tiền Lê Tất Hoài A chiếm đoạt tiền của khách hàng, chứ không phải của Trung tâm K1. Tại bút lục 763 ông Dương Hải S4 xác nhận K1 không bị thiệt hại gì. Do đó, hành vi của Lê Tất Hoài A không cấu thành tội Tham ô tài sản theo Điều 353 Bộ luật Hình sự.
* Ý kiến của Luật sư Nguyễn Thu H1 bào chữa cho bị cáo Lê Tất Hoài A: Thống nhất lời bào chữa của Luật sư Dương Hoài V, đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, có 03 con còn nhỏ đang tuổi ăn tuổi học, cha mẹ già yếu, cha bị đột quỵ, bị cáo là lao động chính trong gia đình.
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án:
Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng tội danh, khung hình phạt và đã xem xét đầy đủ tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết gì mới. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Tất Hoài A được làm trong thời hạn phù hợp quy định tại các Điều 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Tất Hoài A khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:
Từ khoảng đầu năm 2020 đến ngày 01/12/2020, Lê Tất Hoài A là “Nhân viên kinh doanh địa bàn” của Phòng bán hàng Xuân Lộc thuộc Trung tâm K1 đã có hành vi chiếm đoạt tài sản như sau:
Trong phạm vi quyền hạn được giao Lê Tất Hoài A tiến hành ký hợp đồng với 11 khách hàng mới tại địa bàn đã có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng lắp đặt của K1 và thu tiền cước phí trả trước gói 12 tháng của khách hàng nhưng chỉ nhập đóng tiền cước phí gói 06 tháng về Trung tâm Kinh doanh K1. Số tiền cước phí 06 tháng Lê Tất Hoài A đã chiếm đoạt là 18.322.800 đồng. Lê Tất Hoài A thu tiền cước phí trả trước của 03 khách hàng có nhu cầu nâng gói cước dịch vụ và 02 khách hàng có nhu cầu thay đổi tên người dùng và nâng gói cước dịch vụ viễn thông của K1 nhưng không nộp hợp đồng và không nộp tiền về cho giao dịch viên của Phòng bán hàng để nhập thông tin hợp đồng lên hệ thống và đóng tiền về Trung tâm Kinh doanh K1 theo quy định mà chiếm đoạt toàn bộ số tiền thu được của 05 khách hàng là 15.625.600 đồng. Tổng số tiền Lê Tất Hoài A đã chiếm đoạt là 33.948.400 đồng. Số tiền 33.948.400 đồng là tiền do Lê Tất Hoài A quản lý, có trách nhiệm nộp về trung tâm K1 nhưng Lê Tất Hoài A không nộp mà chiếm đoạt.
Lê Tất Hoài A đã thực hiện ký hợp đồng và thu tiền cước phí trả trước gói 06 tháng hoặc 12 tháng của 56 khách hàng tại địa bàn chưa có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng lắp đặt của K1 mà không lập danh sách khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông của VNPT báo về Phòng bán hàng để đề xuất Trung tâm viễn thông tiến hành khảo sát, lắp đặt, xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn thiện rồi mới ký hợp đồng với khách hàng theo quy trình đã quy định để chiếm đoạt toàn bộ số tiền thu được của 56 khách hàng là 124.502.400 đồng. Lê Tất Hoài A đã thu tiền và chiếm đoạt số tiền này là ngoài phạm vi quyền hạn được giao.
Đối với địa bàn đã có sẵn mạng lưới: Lê Tất Hoài A đã thu tiền của khách hàng tổng cộng là 33.948.400 đồng sau đó chiếm đoạt luôn không nộp về công ty. Nên bị cáo bị xét xử về tội tham ô tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 là đúng.
Đối với địa bàn chưa có sẵn mạng lưới: Ở giai đoạn này bị cáo đã thu tiền 56 khách hàng, chiếm đoạt số tiền là 124.502.400đ của khách hàng trước khi khảo sát, lắp đặt, xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn thiện là không đúng quy định, Tòa khu vực xét xử bị cáo về hành vi Lạm dụng chiếm đoạt tài sản là không đúng bản chất hành vi của bị cáo:
Vì căn cứ quy định tại Điều 355 Bộ luật Hình sự 2015 và khoản 5 Điều 3 Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP thì “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” được hiểu như sau: “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn” quy định tại khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Hình sự là sử dụng vượt quá quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ được giao hoặc tuy không được giao, không được phân công nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực đó nhưng vẫn thực hiện”. Như vậy, yếu tố “vượt quá” hoặc “không được giao” là dấu hiệu định tội của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
Bản án sơ thẩm cho rằng bị cáo Lê Tất Hoài A đã ký hợp đồng và thu tiền cước phí trả trước gói 06 tháng hoặc 12 tháng của 56 khách hàng tại địa bàn chưa có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng lắp đặt của K1 mà không lập danh sách khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông của VNPT báo về Phòng bán hàng để đề xuất Trung tâm viễn thông tiến hàng khảo sát, lắp đặt, xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn thiện rồi mới ký hợp đồng với khách hàng theo quy định để chiếm đoạt số tiền thu được là 124.502.400 đồng.
Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định việc bị cáo Lê Tất Hoài A ký hợp đồng và thu tiền ở địa bàn chưa có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng của VNPT là hành vi vượt quá chức vụ, quyền hạn là không phù hợp, bởi lẽ:
Căn cứ vào Hợp đồng lao động đã ký kết của bị cáo cùng lời khai của người quản lý trực tiếp là ông Phạm Tấn P2 – Giám đốc Phòng Bán hàng Xuân Lộc cho thấy rõ ràng bị cáo Lê Tất Hoài A được phép ký hợp đồng và thu tiền cước phí của khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông do VNPT cung cấp (bao gồm khách hàng ở địa bàn chưa có sẵn mạng lưới của K1). Điều này được thể hiện tại:
- Biên bản ghi lời khai ngày 16/04/2021 của ông P2 (BL.40): “... Hoài A được giao nhiệm vụ nhân viên quản lý địa bàn... ký hợp đồng với khách hàng, được phép thu tiền theo gói cước đăng ký.”
- Tương tự, tại Biên bản lời khai ngày 11/12/2023 và 30/5/2024 (BL.761, BL.784), ông P2 khai: “Hoài A là nhân viên địa bàn thì được thu tiền gói cước gia hạn hợp đồng là đúng quy định.” và “...Hoài A vẫn thu thực hiện thu tiền gói cước gia hạn hợp đồng theo như quy định thì không có sai vì trong hợp đồng lao động đã ký kết thì Hoài A là nhân viên địa bàn thì được thu tiền gia hạn gói cước”.
- Biên bản đối chất ngày 15/9/2021 (BL.168, BL.169) ông P2 xác nhận: “Nhân viên quản lý địa bàn được Giám đốc giao nhiệm vụ thu tiền cước phí và phát triển khách hàng mới..."
Hơn nữa, điều này cũng được thể hiện tại quy trình, nội quy quy định công ty như sau: “Đối với quy trình tiến hành ký hợp đồng cung cấp dịch vụ viễn thông VNPT cho khách hàng mới được quy định như sau: Khi tiến hành ký hợp đồng với khách hàng tại địa bàn chưa có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng lắp đặt của K1 thì nhân viên quản lý địa bàn phải lập danh sách khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông của K1 rồi báo về Phòng bán hàng để đề xuất Trung tâm viễn thông tiến hành khảo sát, lắp đặt, xây dựng cơ sở hạ tầng. Sau khi cơ sở hạ tầng hoàn thiện thì nhân viên quản lý địa bàn mới được phép ký hợp đồng và thu tiền cước phí...”. Như vậy, nội quy công ty cũng quy định bị cáo được quyền ký hợp đồng và thu tiền kể cả trường hợp chưa có sẵn mạng lưới cơ sở hạ tầng của VNPT.
Tại phiên toà sơ thẩm đại diện của K1 cũng đã thừa nhận rằng công ty đồng ý cho nhân viên được ký kết hợp đồng và thu tiền ở những địa bàn khác không phải địa bàn của VNPT để tìm thêm nguồn khách hàng mới (địa bàn chưa có sẵn mạng lưới, cơ sở hạ tầng của K1).
Như vậy, việc ký hợp đồng và thu tiền tại địa bàn chưa có hạ tầng không phải là hành vi “vượt quá quyền hạn”, vì bởi đây chính là nhiệm vụ bị cáo được giao. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định bị cáo ký hợp đồng, thu tiền ở địa bàn chưa có sẵn mạng lưới của K1 là hành vi vượt quá chức vụ, quyền hạn là không đúng bản chất hành vi của bị cáo.
Căn cứ theo quy định trên, việc bị cáo không lập danh sách khách hàng báo cáo về cho trung tâm là những sai sót, vi phạm về mặt quy trình nghiệp vụ của công ty chứ không phải là hành vi vượt quá chức vụ, quyền hạn bởi như đã trình bày ở trên quyền hạn của bị cáo là được ký hợp đồng và thu tiền.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử hành vi thu tiền khách hàng nơi chưa có sẵn mạng lưới của bị cáo là phạm tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là chưa đủ cơ sở vững chắc nên cần phải hủy để điều tra, xét xử lại.
[3] Đối với ý kiến của Luật sư phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận phần phù hợp.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận phần phù hợp.
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, 2 Điều 355 và điểm a khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Tất Hoài A;
Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án khu vực 6 – Đồng Nai).
Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai để điều tra lại theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thu Hương |
Bản án số 698/2025/HSPT ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tham ô tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 698/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy án để để điều tra lại
