Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 688/2025/HS-PT

Ngày 29 tháng 12 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán:Ông Chung Văn Kết
Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Nơi – Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Lê Công T – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 403/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thanh B, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh B và bị hại Trương Thị N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2025/HS-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3906/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 12 năm 2025.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thanh B (tên gọi khác: không) sinh năm 1993 tại tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình); nơi cư trú: Số C, Tổ I, khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã D, tỉnh Đồng Nai); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; bị cáo có 01 người em gái, bị cáo là con cả trong trong gia đình; có vợ là bà Phạm Thị Tuyết D, sinh năm 1991 và 01 người con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị bắt từ ngày 13/3/2025 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại có kháng cáo: Bà Trương Thị N, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ C, Ấp A, xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, tỉnh Đồng Nai) – Có mặt.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Đoàn Trọng N2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H – Có mặt.

- Ngoài ra, trong vụ án này còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh B là nhân viên Ngân hàng M làm việc ở bộ phận tín dụng chi nhánh L2, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, địa chỉ 21 – B N, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai). Thời gian làm việc tại Ngân hàng M, do chị Trương Thị N là khách hàng của M nên B quen biết với chị N, từ đó B nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị N bằng thủ đoạn đề nghị chị N giao tiền cho B để đáo hạn ngân hàng cho khách hàng của Ngân hàng M với lãi suất 2%/01 ngày, thời hạn vay khoảng vài ngày, vì tin tưởng lời nói dối của B là thật nên chị N đồng ý. Sau khi chiếm đoạt được tiền của chị N, B không làm dịch vụ đáo hạn như thỏa thuận mà sử dụng vào mục đích cá nhân. Trong thời gian từ ngày 06/7/2022 đến ngày 10/10/2022, với thủ đoạn trên B đã hai lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt 2.245.000.000 đồng của chị N, cụ thể:

Lần thứ nhất: Ngày 06/7/2022, B nói với chị N có khách hàng tên Hoàng Thị Kim L1, sinh năm 1970, nơi thường trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai đang thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 106, tờ bản đồ số 15, địa chỉ: Xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã D, tỉnh Đồng Nai) và thửa đất số 43, tờ bản đồ số 30 tại địa chỉ xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai cần đáo hạn và vay lại với số tiền là 3.000.000.000 đồng. Mặc dù cùng ngày, B đã thực hiệc việc đáo hạn cho chị L1 vay lại số tiền 3.000.000.000 đồng nhưng B vẫn nói dối với chị N là chị L1 đang cần vay 1.200.000.000 đồng (lãi suất 0,2%/01ngày) trong thời hạn 04 ngày để đáo hạn ngân hàng, làm hồ sơ vay lại thì được chị N đồng ý. Đến ngày 08/7/2022, chị N nhờ anh Trương Văn H (em trai chị N) sử dụng tài khoản 8888883868 mở tại Ngân hàng M chuyển vào số tiền khoản 0938848968 mở tại Ngân hàng M đứng tên Nguyễn Văn B1 số tiền 1.200.000.000 đồng. Sau khi nhận số tiền trên, B1 chiếm đoạt và chuyển khoản trả nợ số tiền 903.600.000 đồng cho anh Phạm Trường G, sinh năm 1993, nơi thường trú: khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã D, tỉnh Đồng Nai) và chuyển số tiền 200.800.000 đồng trả nợ cho chị Phan Thị Thùy T1, nhân viên Ngân hàng M làm chung với B1. Hết thời hạn thoả thuận, chị N đề nghị B1 trả lại số tiền 1.200.000.000 đồng thì B1 nói dối chị N do hồ sơ chị L1 đang vướng thủ tục pháp lý nên chưa giải ngân được, đồng thời B2 xin chị N trả tiền lãi thì chị N đồng ý.

Lần thứ hai: Đến đầu tháng 10/2022, thời điểm này B2 chuẩn bị nghỉ việc tại Ngân hàng M nhưng do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, B2 tiếp tục nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị N bằng thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối khách hàng Hoàng Thị Kim L1 sắp hoàn thành hồ sơ đáo hạn và sẽ được duyệt vay nên chị L1 cần số tiền 1.045.000.000 đồng để đáo hạn, sau khi làm thủ tục vay đáo hạn ngân hàng cho chị L1 xong thì B2 sẽ trả lại số tiền này cùng với số tiền 1.200.000.000 đồng trước đó, tổng cộng là 2.245.000.000 đồng, tin tưởng lời nói dối của B2 là thật nên chị N đồng ý. Ngày 10/10/2022, chị N đã chuyển qua tài khoản ngân hàng của B2 02 lần với tổng số tiền là 1.045.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được số tiền trên, B2 chuyển hai lần với tổng số tiền 1.000.000.000 đồng vào tài khoản 5907205057487 của anh Phạm Văn P, sinh năm 1987, thường trú ấp D, xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là xã Đ, tỉnh Đồng Nai) mở tại Ngân hàng A để trả nợ, đồng thời Bình nghỉ việc tại Ngân hàng M.

Sau nhiều lần chị N liên hệ đề nghị B2 trả 2.245.000.000 đồng nhưng B2 không trả nên chị N làm đơn tố cáo.

Tại Bản Cáo trạng số 11/CT-VKSBP-P1 ngày 10/7/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Bình về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2025/HS-ST ngày 18/9/2025 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B 12 (mười hai) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày tạm giam (ngày 13/3/2025)”...

Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng; về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 22/9/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai nhận được đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh B, bị cáo B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 30/9/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai nhận được đơn kháng cáo của bị hại Trương Thị N, bị hại N kháng cáo yêu cầu tăng nặng mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh B.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo B và bị hại N vẫn giữ nguyên kháng cáo.

* Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xử 12 năm tù là phù hợp, bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ gì mới; Tòa án sơ thẩm buộc ông G, bà T1, ông P trả tiền cho bà N là có căn cứ, đảm bảo được việc khắc phục cho bà N, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà N, đề nghị giữ y án sơ thẩm.

* Luật sư N2 bào chữa cho bị cáo trình bày: Gia đình bị cáo đã khắc phục 150 triệu, sơ thẩm tuyên buộc những người đã nhận dòng tiền từ bị cáo trả lại tiền cũng đảm bảo việc khắc phục cho bị hại nên đề nghị xem xét hậu quả, giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

* Bà N trình bày: Bị cáo B đã lừa tôi rất nhiều, không chỉ có số tiền này mà còn nhiều hơn nữa, sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo không bồi thường gì mà còn thách thức tôi, bị cáo am hiểu pháp luật nên cho chị vợ đứng tên giùm đất đai để lách luật, không trả tiền cho tôi. Nên đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Đối với nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh B, Hội đồng xét xử thấy rằng:
    1. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Do muốn có tiền trả nợ, trong thời gian từ ngày 06/7/2022 đến ngày 10/10/2022, Nguyễn Thanh B là nhân viên Ngân hàng M làm việc ở bộ phận tín dụng chi nhánh L2 địa chỉ B - B N, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Trương Thị N với thủ đoạn như sau: B đã hai lần đưa ra thông tin gian dối có khách hàng Hoàng Thị Kim L1 cần vay tiền để đáo hạn ngân hàng, làm hồ sơ vay mới để chị Trương Thị N tin tưởng đưa 2.245.000.000 đồng cho B. Sau khi chiếm đoạt được tiền, B không làm dịch vụ đáo hạn mà sử dụng để trả nợ cho anh Phạm Trường G, chị Phan Thị Thùy T1, anh Phạm Văn P, tổng cộng 2.104.400.000 đồng.

Như vậy, bị cáo Nguyễn Thanh B đã có hành vi gian dối đối với bà Trương Thị N chiếm đoạt tổng cộng 2.245.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 11/CT-VKSBP-P1 ngày 10/7/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

  1. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được việc làm của mình là trái pháp luật, nhưng vì để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lừa dối chiếm đoạt tiền của bà N số tiền 2.245.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, do vậy cần xử phạt bị cáo một mức án tù có thời hạn nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
  2. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thanh B gian dối chiếm đoạt của bà Trương Thị N 02 lần, cả hai lần đều đủ định lượng cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Tình tiết giảm trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; gia đình có người thân có công với Cách mạng được tặng thưởng huân huy chương; bị cáo có ông bà ngoại và bác ruột là người có công với Cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc, xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh B mức án 12 năm tù, mức khởi điểm của khung hình phạt là tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.

  1. Xét kháng cáo của bị hại Trương Thị N, Hội đồng xét xử thấy rằng:
    1. Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo xác định sau 2 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền của chị N, bị cáo đã dùng để trả nợ cho anh G, chị T1 và anh P, cụ thể tổng số tiền là 2.104.400.000 đồng trong đó bị cáo trả nợ cho anh Phạm Trường G số tiền 903.600.000 đồng, trả nợ cho chị Phan Thị Thùy T1 200.800.000 đồng, trả nợ cho anh Phạm Văn P 1.000.000.000 đồng. Xét thấy, đây là tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của bị cáo, nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc anh G, chị T1, anh P giao nộp để đảm bảo thi hành án cho bị hại Trương Thị N.
    2. Bị cáo đã tác động gia đình là bà Phạm Thị Tuyết D (vợ của bị cáo B) bồi thường khắc phục số tiền 150.000.000 đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai theo Biên lai thu tiền số 0000216 ngày 26/8/2025.

Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên buộc anh Phạm Trường G, chị Phan Thị Thùy T1 và anh Phạm Văn P nộp lại tổng số tiền là 2.104.400.000 đồng. Bị hại Trương Thị N được nhận số tiền 150.000.000 đồng mà gia đình bị cáo B đã nộp khắc phục là đã đảm bảo việc khắc phục số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh B.

  1. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh B không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  2. Quan điểm của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  3. Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.
  4. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh B, của bị hại Trương Thị N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2025/HS-ST ngày 18/9/2025 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù kể từ ngày tạm giam (ngày 13/3/2025).

  1. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện Công tố và Kiểm xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Trại tạm giam số 1 – Công an tỉnh Đồng Nai (tống đạt cho bị cáo);
  • - Lưu HSVA, VTLT, (22b-TVN).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 688/2025/HS-PT ngày 29/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 688/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh B phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger