Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 15 – AN GIANG

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HS-ST

Ngày: 22 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Ức và bà Nguyễn Thị Kiều Trang.

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mộng Thu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoài Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Mai Vũ L (tên gọi khác: không), sinh ngày 13/10/1994; nơi sinh: tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp A, xã K, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp K, xã K, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn H, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1963; anh, chị, em ruột có 06 người, bị cáo là người thứ hai; có vợ tên Huỳnh Thị Như Ý, sinh năm 2003; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2012 nhỏ nhất sinh năm 2018.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 06/11/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K, huyện A, tỉnh An Giang xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Chưa đóng phạt.

Nhân thân: Ngày 26/3/2019, Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 175 năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngày 18/10/2019, chấp hành xong hình phạt và nghĩa vụ án phí.

Bị bắt tạm giam từ ngày 25/12/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Phan Chí H1, sinh ngày 09/02/1992; địa chỉ: Ấp A, xã K, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Ông Nguyễn Thanh N, sinh ngày 04/4/1991; địa chỉ: Ấp A, xã K, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Bà Bùi Ngọc Á, sinh ngày 09/9/1976; địa chỉ: Ấp S, xã K, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người chứng kiến:

- Ông Huỳnh Văn N1; vắng mặt.

- Ông Bùi Hữu N2; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 08/9/2024, Công an xã K (nay là xã K), tỉnh An Giang tuần tra đến khu vực ấp K, xã K (nay xã K), tỉnh An Giang, phát hiện Mai Vũ L, Nguyễn Thanh N và Phan Chí H1 đang sử dụng ma túy tại nhà Quách Văn R (đã bỏ địa phương, L trực tiếp quản lý sử dụng) nên tiến hành kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an đến, L, N và H1 bỏ chạy, lúc này Công an xã tiến hành lập biên bản vụ việc mời người chứng kiến và thu giữ đồ vật, tài liệu gồm có: 01 điện thoại iPhone 7 màu đen; 01 sạc dự phòng hiệu Samsung màu xám; 01 hộp giấy màu vàng bên ngoài có chữ LIGHTER BOUTIQUE, bên trong có 08 bọc nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 02 cây kéo bằng kim loại; 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng-sọc trắng, 01 đầu được hàn kín, 01 đầu cắt nhọn; 01 bọc nilon được hàn kín 3 cạnh; 01 bật lửa màu xanh; 01 bật lửa màu đỏ. Qua rà soát truy tìm đối tượng đến ngày 09/9/2024 mời Phan Chí H1, Nguyễn Thành N3 làm việc thì thừa nhận vào ngày 08/9/2024 có sử dụng ma túy cùng với Mai Vũ L. Đến ngày 12/9/2024, L đến Công an xã K (nay xã K) đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.

Quá trình điều tra, xác định:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/9/2024, Mai Vũ L đang ở nhà của Quách Văn R (đã bỏ địa phương, L trực tiếp quản lý sử dụng) thuộc Tổ 1, ấp K, xã K, tỉnh An Giang có người bạn tên T (không rõ họ và tên, sống tại Campuchia), đến nhà L có đem theo 01 hộp giấy màu vàng bên ngoài có chữ LIGHTER BOUTIQUE bên trong có chứa ma túy loại ma túy đá. Lúc này T lấy trong hộp ra một ít ma túy để sử dụng cùng với L; công cụ sử dụng ma túy do L cung cấp. Sau khi sử dụng ma túy xong, T đi về Campuchia. Khi T đi về, T có bỏ lại chiếc hộp bên chứa ma túy nói trên và nói sẽ quay lại, L giữ hộp ma túy tại chỗ để chờ T quay lại lấy. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì Nguyễn Thanh N và Phan Chí H1 đến nhà của L sử dụng số ma túy còn sót lại trên bộ dụng cụ mà T và L đã sử dụng, thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Ngày 19/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện A khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Mai Vũ L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Căn cứ Kết luận giám định số 1301 ngày 17/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng: 2,2584 gam.

Căn cứ Kết luận giám định số 756 ngày 31/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận:

Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có số IMEI 352987097174025 (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an tỉnh A gửi đến giám định, chi tiết thể hiện trong 01 đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo giao cho Cơ quan điều tra.

Kèm theo kết luận giám định: 01 đĩa DVD nhãn hiệu RISHENG, có tổng dung lượng 147MB, trên đĩa có ghi “Vụ: 756/KL-KTHS ngày 31/5/2025” và chữ ký của Giám định viên Giáp Thanh T1.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: 01 phong bì được niêm phong (Vụ số 1301/KL-KTHS (MT-GT) ngày 17/9/2024 có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện A, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H2, Huỳnh Trọng T2; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen; 01 cục sạc dự phòng hiệu S; 01 hộp giấy màu vàng bên ngoài có chữ LIGHTER BOUTIQUE; 02 cây kéo bằng kim loại; 01 ống hút nhựa màu hồng sọc trắng, một đầu được hàn kín, một đầu cắt nhọn; 01 bọc nilon trong suốt được hàn kính 3 cạnh; 02 bật lửa màu xanh, đỏ.

Ngày 19/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện A khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Mai Vũ L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tại Bản Cáo trạng số 11/CT-VKSKV15 ngày 20 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang truy tố bị cáo Mai Vũ L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo Mai Vũ L không có ý kiến với nội dung Cáo trạng và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Trong phát biểu luận tội, Kiểm sát viên trình bày: Khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật nên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo tại phiên tòa.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo M Vũ Lành từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt, xử phạt bị cáo từ 10 (mười) năm đến 12 (mười hai) năm tù.

Về hình phạt bổ sung, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong (Vụ số 1301/KL-KTHS (MT-GT) ngày 17/9/2024 có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện A, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H2, Huỳnh Trọng T2); 01 hộp giấy màu vàng bên ngoài có chữ LIGHTER BOUTIQUE; 02 cây kéo bằng kim loại; 01 ống hút nhựa màu hồng sọc trắng, một đầu được hàn kín, một đầu cắt nhọn; 01 bọc nilon trong suốt được hàn kín 3 cạnh; 02 bật lửa màu xanh, đỏ do không còn giá trị sử dụng.

Đề nghị trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, model: Iphone 7, số IMEI: 352987097174025 (điện thoại di động nằm trong 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số 756/KL-KTHS (MT-GT) ngày 31/5/2025 có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A và các chữ ký ghi tên Huỳnh Trọng T2 và Giáp Thanh T1) theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 03/6/2025); 01 cục sạc dự phòng hiệu Samsung do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Người nam thanh niên tên T không xác định tên, địa chỉ Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là đầy đủ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp và phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Chí H1, ông Nguyễn Thanh N, bà Bùi Ngọc Á, người chứng kiến ông Huỳnh Văn N1, ông Bùi Hữu N2 đều vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Tuy nhiên, những người tham gia tố tụng này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án và đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của họ. Xét việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

Lời nhận tội của bị cáo Mai Vũ L tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, đồng thời cũng phù hợp với biên bản ghi nhận sự việc, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lời khai người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra. Qua xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định bị cáo đã tàng trữ số lượng ma túy loại Methamphetamine có khối lượng: 2,2584 gam theo Kết luận giám định số 1301 ngày 17/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh A. Bên cạnh việc tàng trữ số lượng ma túy nêu trên, bị cáo còn bố trí, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy cho các đối tượng Phan Chí H1, Nguyễn Thanh N sử dụng trái phép chất ma túy bị lực lượng chức năng phát hiện.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cũng như tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Tình hình tội phạm ma túy trên cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh An Giang nói riêng đang diễn biến phức tạp và ngày càng gia tăng về số lượng, tinh vi về cách thức phạm tội. Ma tuý không chỉ tàn phá sức khỏe của người sử dụng mà còn là nguyên nhân làm nảy sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà nhà nước đang ra sức thực hiện.

[4] Về nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét về nhân thân, bị cáo có 01 tiền sự về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngoài ra, ngày 26/3/2019 bị cáo còn bị xử phạt 09 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong hình phạt và nghĩa vụ chịu án phí vào ngày 18/10/2019. Do đó, bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Về hình phạt:

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như sự cần thiết đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù đối với bị cáo nhằm đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Việc áp dụng hình phạt tù còn nhằm đảm bảo mục đích cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội về sau.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số 1301/KL-KTHS (MT-GT) ngày 17/9/2024 có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện A, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Huỳnh Trọng T2; 01 (một) hộp giấy màu vàng bên ngoài có chữ LIGHTER BOUTIQUE, đã qua sử dụng; 02 (hai) cây kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) ống hút nhựa màu hồng sọc trắng, một đầu được hàn kín, một đầu được cắt nhọn, đã qua sử dụng; 01 (một) bọc nilon trong suốt được hàn kín 3 cạnh, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng do không còn giá trị sử dụng.

Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, model: Iphone 7, số IMEI: 352987097174025 (điện thoại di động nằm trong 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số 756/KL-KTHS (MT-GT) ngày 31/5/2025 có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A và các chữ ký ghi tên Huỳnh Trọng T2 và Giáp Thanh T1) theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 03/6/2025); 01 cục sạc dự phòng hiệu Samsung do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

[8] Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A tiếp tục xác minh làm rõ đối tượng T để xử lý theo quy định của pháp luật.

[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo luật định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Vũ L (tên gọi khác: Không) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Mai Vũ L: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung: 11 (mười một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 25/12/2024 (ngày hai mươi lăm tháng mười hai năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số 1301/KL-KTHS (MT-GT) ngày 17/9/2024 có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện A, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Huỳnh Trọng T2; 01 (một) hộp giấy màu vàng bên ngoài có chữ LIGHTER BOUTIQUE, đã qua sử dụng; 02 (hai) cây kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) ống hút nhựa màu hồng sọc trắng, một đầu được hàn kín, một đầu được cắt nhọn, đã qua sử dụng; 01 (một) bọc nilon trong suốt được hàn kín 3 cạnh, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, model: Iphone 7, số IMEI: 352987097174025 (điện thoại di động nằm trong 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số 756/KL-KTHS (MT-GT) ngày 31/5/2025 có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A và các chữ ký ghi tên Huỳnh Trọng T2 và Giáp Thanh T1) theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 03/6/2025); 01 cục sạc dự phòng hiệu S.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 - An Giang).

4. Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác:

Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Buộc bị cáo Mai Vũ L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của ông Phan Chí H1, ông Nguyễn Thanh N, bà Bùi Ngọc Á là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Viện KSND tỉnh An Giang (1);
  • - Viện KSND khu vực 15 – An Giang (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Phân trại tạm giam An Phú (Cơ sở 1) (2);
  • - Phòng hồ sơ (2);
  • - Phòng THADS khu vực 15 – An Giang (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - AN GIANG về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 68/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 15 giờ ngày 08/9/2024, Công an xã K (nay là xã K), tỉnh An Giang tuần tra đến khu vực ấp K, xã K (nay xã K), tỉnh An Giang, phát hiện Mai Vũ L, Nguyễn Thanh N và Phan Chí H1 đang sử dụng ma túy tại nhà Quách Văn R (đã bỏ địa phương, L trực tiếp quản lý sử dụng) nên tiến hành kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an đến, L, N và H1 bỏ chạy, lúc này Công an xã tiến hành lập biên bản vụ việc mời người chứng kiến và thu giữ đồ vật, tài liệu gồm có: 01 điện thoại iPhone 7 màu đen; 01 sạc dự phòng hiệu Samsung màu xám; 01 hộp giấy màu vàng bên ngoài có chữ LIGHTER BOUTIQUE, bên trong có 08 bọc nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 02 cây kéo bằng kim loại; 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng-sọc trắng, 01 đầu được hàn kín, 01 đầu cắt nhọn; 01 bọc nilon được hàn kín 3 cạnh; 01 bật lửa màu xanh; 01 bật lửa màu đỏ. Qua rà soát truy tìm đối tượng đến ngày 09/9/2024 mời Phan Chí H1, Nguyễn Thành N3 làm việc thì thừa nhận vào ngày 08/9/2024 có sử dụng ma túy cùng với Mai Vũ L. Đến ngày 12/9/2024, L đến Công an xã K (nay xã K) đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/9/2024, Mai Vũ L đang ở nhà của Quách Văn R (đã bỏ địa phương, L trực tiếp quản lý sử dụng) thuộc Tổ 1, ấp K, xã K, tỉnh An Giang có người bạn tên T (không rõ họ và tên, sống tại Campuchia), đến nhà L có đem theo 01 hộp giấy màu vàng bên ngoài có chữ LIGHTER BOUTIQUE bên trong có chứa ma túy loại ma túy đá. Lúc này T lấy trong hộp ra một ít ma túy để sử dụng cùng với L; công cụ sử dụng ma túy do L cung cấp. Sau khi sử dụng ma túy xong, T đi về Campuchia. Khi T đi về, T có bỏ lại chiếc hộp bên chứa ma túy nói trên và nói sẽ quay lại, L giữ hộp ma túy tại chỗ để chờ T quay lại lấy. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì Nguyễn Thanh N và Phan Chí H1 đến nhà của L sử dụng số ma túy còn sót lại trên bộ dụng cụ mà T và L đã sử dụng, thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Ngày 19/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện A khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Mai Vũ L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger