Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HS-ST

Ngày: 31/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Khả.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trần Trường, ông Trần Đại .

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H, sinh năm 1998 (Tên gọi khác: Không)

Nơi cư trú: Thôn D, xã H, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1974; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Chồng La Văn D, sinh năm 1997; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang có mặt tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh năm 2001. HKTT: Xóm L, xã N, tỉnh Nghệ An. Tạm trú: Thôn Ô, xã Y, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị H và anh La Văn D là vợ chồng. Qua việc đi làm công nhân tại Công ty TNHH S thuộc KCN Y, tỉnh Bắc Ninh, khoảng giữa tháng 7 năm 2024 anh D và chị Nguyễn Thị Quỳnh A đã quen biết nhau do làm chung công ty. Sau một thời gian cả hai phát sinh quan hệ yêu đương. Quá trình yêu đương, anh D sử dụng điện thoại lưu một số hình ảnh và video của chị Quỳnh A. Đến khoảng giữa tháng 4/2025, Hạnh kiểm tra điện thoại của D phát hiện video và một số hình ảnh nhạy cảm của chị Quỳnh A. Lúc này, anh D thừa nhận với H về quan hệ giữa anh D và chị Quỳnh A. H gửi các hình ảnh, video của chị Quỳnh A từ điện thoại anh D qua tin nhắn Zalo và lưu trong điện thoại của H để nhằm xác minh sự việc. Sau đó, H sử dụng tài khoản Zalo tên "Nguyễn H" gửi sang tài khoản Zalo tên “Quỳnh Anhh” của chị Quỳnh A hình ảnh chị Quỳnh A hở ngực (không thấy mặt) chụp trên giường trong nhà nghỉ nhưng chị Quỳnh A không trả lời. H tiếp tục sử dụng tài khoản Facebook "Nguyễn H" gửi đến tài khoản Facebook "Nguyễn Thị Quỳnh A" của chị Quỳnh A 01 đoạn video ghi lại hình ảnh chị Quỳnh A và anh D đi chơi với nhau, tuy nhiên chị Quỳnh A vẫn không thừa nhận chị là người trong ảnh và video mà H gửi. H tiếp tục vào trang cá nhân Facebook của chị Quỳnh A và tìm được 02 tài khoản Facebook tên "Lê Danh" của chị Lê Thị D1 và tài khoản Facebook tên "Duyên" của chị Nguyễn Thị D2 đều là bạn bè của chị Quỳnh A. H gửi hình ảnh chị Quỳnh A cởi trần hở ngực (nhưng không thấy mặt) cho chị D1 và chị D2. Sau đó, H tạo một tài khoản Facebook khác có tên "Nguyễn Nguyễn " tham gia hội nhóm "Thành Phố V" và đăng bài trong nhóm với nội dung "PHỐT CẶP BỒ" cùng các hình ảnh H lấy từ facebook của chị Quỳnh A. Sau khi thấy H đăng bài lên hội nhóm, chị Quỳnh A chủ động gọi điện thoại cho H thừa nhận việc ngoại tình với anh D và gửi lời xin lỗi tới H. Sau khi chị Quỳnh A nhận lỗi, H gỡ bài đăng có tên "PHỐT CẶP BỒ" rồi xóa tài khoản Facebook "Nguyễn Nguyễn " cùng hình ảnh, tin nhắn mà H đã nhắn tin cho chị D1, chị D2, đồng thời đồng ý tha lỗi cho chị Quỳnh A.

Tuy nhiên do bực tức việc chồng ngoại tình, ngày 01/5/2025, H sử dụng tài khoản Facebook tên “Nguyễn H” nhắn tin cho chị Quỳnh A, chị Quỳnh A nhắn lại: "Người nhà em đã biết chuyện, em cũng còn phải nuôi con bé, em mong mọi chuyện dừng lại ở đây". H trả lời: "Đéo muốn yên, nôn tiền trả tao, không nôn tiền trả tao thì mày không được yên". Đồng thời, H yêu cầu chị Quỳnh A phải đưa số tiền 2.300.000 đồng là các khoản tiền mà anh D đã sử dụng khi quan hệ với chị Quỳnh A bao gồm tiền thuê nhà nghỉ, đi chơi, ngồi xe máy của D phải thay da bọc yên xe và tiền xét nghiệm bệnh truyền nhiễm. Chị Quỳnh A nhắn tin cho H: "Em đang ở nhà, em không có tiền". H trả lời: "Mày trả tao nhanh nhẩu lên, mày trả mọi chuyện xong tao đéo liên quan đến mày nữa, còn không trả từ giờ đến tối bạn bè của mày biết hết luôn". Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, H gửi cho chị Quỳnh A hình ảnh mã QR Code của ngân hàng V1, số tài khoản 0351001007530 của H và nhắn tin đe doạ: "Mày không trả thì từ giờ đến tối thì mọi người biết hết, tao kết bạn với cỡ 200 người bạn của mày rồi". Để ép buộc Quỳnh A phải đưa tiền cho mình, H tiếp tục nhắn tin: "Mày không đưa thì từ giờ về sau mày quen ai tao lại gửi tiếp cho người ta, để cho người ta biết mày có nhục đến hết đời không”. Lo sợ nếu không giao tiền cho H thì H sẽ tung hình ảnh nhạy cảm và tung tin chị Quỳnh A ngoại tình với chồng H đến nhiều người thân nên Quỳnh A nhắn tin trả lời: "Chiều em bắn cho chị" (chuyển khoản tiền cho H), H nhắn tin đe doạ: "Từ giờ đến chiều không bắn đủ thì đừng trách tao, bắn đủ tao khác không liên quan ảnh hưởng gì đến mày nữa, không đủ đừng trách tao ác" để buộc chị Quỳnh A phải giao số tiền 2.300.000 đồng cho mình đúng hẹn. Đến 10 giờ 15 phút cùng ngày, chị Quỳnh A sử dụng tài khoản số 1012922069 ngân hàng V1 mang tên NGUYEN THI QUYNH ANH chuyển khoản số tiền 2.300.000 đồng vào tài khoản số 0351001007530 ngân hàng V1 mang tên NGUYEN THI HANH của H. Số tiền này H đã tiêu sài cá nhân hết. Đến ngày 20/6/2025, chị Quỳnh A đã làm đơn tố giác đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B về sự việc trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành xác minh, triệu tập H đến làm việc.

Vật chứng thu giữ: Hình ảnh nội dung tin nhắn Facebook giữa H và chị Quỳnh A và hình ảnh bài đăng “PHỐT CẶP BỒ” trên hội nhóm “Thành phố V” in ra khổ giấy A4 do chị Quỳnh A giao nộp. H xác nhận các tin nhắn và nội dung bài đăng trên hội nhóm là do H sử dụng điện thoại của H đăng và gửi cho chị Quỳnh A.

Bản Cáo trạng số 55/CT-VKS-KV7 ngày 11/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận do phát hiện chồng của bị cáo có quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị Quỳnh A đồng thời bị cáo kiểm tra điện thoại của anh D thì phát hiện một số hình ảnh nhạy cảm của chị Quỳnh A trong điện thoại của anh D. Bị cáo đã gửi hình ảnh chị Quỳnh A khỏa thân phần trên nhưng không thấy mặt cho bạn bè của chị Quỳnh A. Đến ngày 01/5/2025 bị cáo gửi những hành ảnh này cho chị Quỳnh A và có một số lời nói đe dọa nếu chị Quỳnh A không đưa tiền cho bị cáo thì bị cáo sẽ tiếp tục gửi hình ảnh nhạy cảm cho bạn bè, người thân của chị Quỳnh A. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh, điều luật như cáo trạng đã truy tố. Sau khi xảy ra sự việc thì bị cáo đã bồi thường cho chị Quỳnh A số tiền 12.300.000 đồng bao gồm 2.300.000 đồng số tiền đã chiếm đoạt và 10.000.000 đồng tiền bồi thường tổn thất tinh thần cho chị Quỳnh A. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh truy tố bị cáo là đúng, không oan cho bị cáo.

- Bị hại chị Nguyễn Thị Quỳnh A trình bày: Chị có quan hệ tình cảm với anh La Văn D là chồng của bị cáo H. Khoảng giữa tháng 4/205 chị nhận được tin nhắn của bị cáo H với một số bức ảnh nhạy cảm của mình. Bị cáo đã gửi các hình ảnh này cho bạn bè, người thân của chị. Đến sáng 01/5/2025, bị cáo H tiếp tục gửi những hình ảnh nhạy cảm của chị cho chị xem và đe dọa nếu không đưa tiền thì sẽ tiếp tục gửi hình ảnh nhạy cảm cho bạn bè, người thân chị được biết, đến khoảng 9 giờ cùng ngày thì bị cáo lại tiếp tục đe dọa gửi tiền để xóa ảnh. Vì lo sợ bị cáo tiếp tục phát tán hình ảnh nhạy cảm của mình nên khoảng 10 giờ 15 phút chị Quỳnh A đã chuyển tiền trực tiếp cho bị cáo H. Chị Quỳnh A đã nhận lại số tiền 2.300.000 đồng và số tiền 10.000.000 đồng tiền bồi thường tổn thất tinh thần của bị cáo H. Đến nay thì chị Quỳnh A không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm về trách nhiệm dân sự. Về phần trách nhiệm hình sự, chị Quỳnh A đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Lưu giữ theo hồ sơ vụ án: Hình ảnh nội dung tin nhắn Facebook giữa H và chị Quỳnh A và hình ảnh bài đăng “PHỐT CẶP BỒ” trên hội nhóm “Thành phố V” in ra khổ giấy A4 do chị Quỳnh A giao nộp.

Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh.

Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng giữa tháng 4/2025, Nguyễn Thị H phát hiện chồng là anh La Văn D ngoại tình với chị Nguyễn Thị Quỳnh A, H gửi video, hình ảnh nhạy cảm (nhưng không thấy mặt) của chị Quỳnh A cho chị Quỳnh A và một số bạn bè của chị Quỳnh A và tạo Facebook khác đăng hội nhóm “Thành phố V” bài “PHỐT CẶP BỒ”. Sau khi được chị Quỳnh A xin lỗi, H đã xóa các tin nhắn và bài viết. Đến sáng ngày 01/5/2025, chị Quỳnh A đang ở phòng trọ tại thôn Ô, xã Y, tỉnh Bắc Ninh. Thì nhận được tin nhắn của H. H có hành vi sử dụng hình ảnh nhạy cảm của chị Quỳnh A liên tục nhắn tin đe dọa, uy hiếp tinh thần chị Quỳnh A nhằm chiếm đoạt số tiền 2.300.000 đồng. Đến 10 giờ 15 phút cùng ngày, chị Quỳnh A đã chuyển khoản cho H số tiền trên. Số tiền này H đã trả lại cho bị hại. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H đã đủ yếu tố cấu thánh tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của người khác, tất cả đều được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án tương xứng đối với bị cáo, nhằm đạt mục đích răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự;

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự.

[5] Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú ổn định, có công ăn việc làm rõ ràng. Bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Bộ luật Hình sự. Bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng do vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 12.300.000 đồng, bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng, không có tài sản do vậy Cần miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với hình ảnh nội dung tin nhắn Facebook giữa H và chị Quỳnh A và hình ảnh bài đăng “PHỐT CẶP BỒ” trên hội nhóm “Thành phố V” in ra khổ giấy A4 do chị Quỳnh A giao nộp là vật chứng của vụ án nên cần lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

[7] Liên quan trong vụ án:

[7.1] Đối với chiếc điện thoại Iphone 12 Pro màu đen của Nguyễn Thị H. Quá trình điều tra, H khai nhận do lo sợ H đi đánh ghen nên anh D đã ném chiếc điện thoại này xuống sông C thuộc địa phận M, xã H, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định truy tìm vật và niêm yết công khai tại Công an xã H tuy nhiên đến nay chưa tìm được, khi nào tìm được sẽ xử lý sau.

[7.2] Đối với anh La Văn D không biết việc H lấy hình ảnh và video trong điện thoại của anh D nhằm uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt số tiền 2.300.000 đồng của chị Quỳnh A nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B không xử lý hình sự mà chỉ nhắc nhở là phù hợp.

[7.3] Đối với hành vi gửi hình ảnh nhạy cảm của chị Quỳnh A cho chị D2 và chị D1 của H. Quá trình điều tra nhận thấy, sau khi H gửi hình ảnh nhạy cảm của chị Quỳnh A cho chị D1 và chị D2 và đăng hình ảnh chị Quỳnh A lên hội nhóm Facebook với nội dung “PHỐT CẶP BỒ” thì cuộc sống, công việc và các mối quan hệ xã hội của chị Quỳnh A vẫn bình thường và không bị ảnh hưởng gì, chị D1 và chị D2 không có ý kiến gì và cũng không phát tán hình ảnh cho người khác. Hình ảnh H gửi là hình ảnh khỏa thân phần trên, không thấy mặt, H cũng không chỉ đích danh người trong ảnh là chị Quỳnh A. Đồng thời chị Quỳnh A có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Làm nhục người khác” của H. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B không xử lý hình sự mà xử phạt hành chính đối với H về hành vi "Cung cấp, chia sẻ thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân" quy định tại điểm a, khoản 1, điều 101, Nghị định 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông, tần số vô tuyến, Công nghệ, thông tin và giao dịch điện tử, hình thức Phạt tiền, số tiền 7.500.000 đồng là phù hợp.

[7.4] Đối với hành vi ngoại tình của anh La Văn D và chị Nguyễn Thị Quỳnh A. Quá trình xác minh nhận thấy, hành vi này của anh D là lén lút, chị Quỳnh A và D không chung sống với nhau như vợ chồng. Cuộc sống gia đình của anh D và H đến nay vẫn bình thường và bản thân H cũng không đề nghị gì về việc này. Vì vậy, Cơ quan điều tra Công an tỉnh B không xem xét xử lý mà chỉ nhắc nhở là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản"

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 13 (mười ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 26 (hai mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã H, tỉnh Bắc Ninh theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Lưu giữ trong hồ sơ vụ án hình ảnh nội dung tin nhắn Facebook giữa H và chị Quỳnh A và hình ảnh bài đăng “PHỐT CẶP BỒ” trên hội nhóm “Thành phố V” in ra khổ giấy A4.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 7 – Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 7 – Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - NTGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Sỹ Khả

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 68/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H Cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger