|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2025/HS-ST Ngày 24 tháng 12 năm 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Chưởng và ông Nguyễn Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Bùi Văn B (Bòn Thum), sinh ngày 29/9/1992. Nơi cư trú: ấp T, xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn M, sinh năm 1973 và bà Hồ Thị B1, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 22/9/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng. Ngày 17/8/2024, chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/10/2025 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22 tháng 9 năm 2023, Bùi Văn B bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời hạn 15 tháng, do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 17 tháng 8 năm 2024, B chấp hành xong quyết định. Đến ngày 18 tháng 8 năm 2024, B bị Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang, quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú thuộc khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh An Giang) từ ngày 18/8/2024 đến ngày 18/8/2026.
Ngày 03 tháng 9 năm 2025, Công an xã T, mời B về trụ sở xét nghiệm chất ma túy, ghi nhận B dương tính với Methamphetamine. Tại đây, B khai nhận ngày 02 tháng 9 năm 2025, B mượn xe mô tô (không nhớ biển số) của bạn tên T (không rõ nhân thân) nhưng không nói cho T biết đi mua ma túy; B điều khiển xe đến xã T, tỉnh Kiên Giang gặp người thanh niên (không rõ nhân thân) mua 200.000 đồng ma túy đá, được chứa trong đoạn ống hút nhựa. Có ma túy, B mang về nhà đổ vào bộ dụng cụ sử dụng hết số ma túy đã mua, rồi ném bỏ bộ dụng cụ xuống sông.
Vật chứng thu giữ: không.
Tại Bản Kết luận giám định số 566 ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: mẫu M gửi đến giám định có tìm thấy thành phần chất ma túy, loại Methamphetamine. Không hoàn lại đối tượng giám định, mẫu M đã sử dụng hết trong giám định.
Ngày 20 tháng 10 năm 2025, Bùi Văn B bị khởi tố, điều tra.
Tại Cáo trạng số 27/CT-VKSKV10, ngày 04/12/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang truy tố bị cáo Bùi Văn B (B) về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025. Xử phạt bị cáo Bùi Văn B mức án từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, không có.
Bị cáo Bùi Văn B nhất trí với bản luận tội, không bào chữa và tranh luận gì khác. Nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:
Bùi Văn B đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy, ngày 02 tháng 9 năm 2025, B tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine tại ấp T, xã T, tỉnh An Giang, bị phát hiện.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng và sự an toàn của con người; xâm phạm chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo xuất thân thành phần lao động, trước khi phạm tội là người có nhân thân xấu. Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân. Do đó cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, nhưng bị cáo đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy nay vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy, điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Mức hình phạt Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội mà bị cáo gây ra, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Đối với người thanh niên bán ma túy cho Bùi Văn B quá trình điều tra không xác định được nhân thân người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
[6] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn B (B) phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025. Xử phạt bị cáo Bùi Văn B (B) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 23/10/2025).
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Văn B (B) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG về hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 68/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn B phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy
