TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2025/HNGĐ-ST Ngày 22-12-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Bấm
Ông Vũ Đức Dũng
Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Khắc Huy- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Như Ngọc- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 59/2025/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số B Q, phường H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1963; nơi cư trú: Số B Q, phường H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 24 tháng 4 năm 2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, quận H (nay là phường H), thành phố Hải Phòng vào ngày 24/10/1986. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm. Từ năm 2002, ông M thường xuyên cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều người, bà N đã phải nhiều lần trả nợ thay ông M. Mặt khác, ông M thường xuyên say rượu, hay mắng chửi bà Năm S đêm, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống của bà N. Nay xét thấy tình cảm vợ không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không còn khả năng khắc phục được nên bà N yêu cầu ly hôn ông M.
Về con chung: Bà N và ông M có 02 con chung là Phạm Anh T, sinh năm 1987 và Phạm Phương N1, sinh năm 1992, đều đã trên 18 tuổi, nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn nhưng đều vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể: Vắng mặt tại tất cả các lần Tòa án triệu tập, không lý do.
Quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân khu vực 3, thành phố Hải Phòng nhận định:
- Về tố tụng
[1] Về thẩm quyền: Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại phường H, thành phố Hải Phòng nên căn cứ Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3, thành phố Hải Phòng.
[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt, không lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Xét lời khai của bà N phù hợp với lời khai của những người làm chứng về mâu thuẫn của vợ chồng bà N, ông M phát sinh do bất đồng quan điểm và ông M có những việc làm ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống của bà N. Mâu thuẫn của bà N và ông M đã xảy ra trong thời gian dài, bà N xác nhận không còn tình cảm với ông M. Mặt khác, ông M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng đều vắng mặt không lý do và cũng không gửi văn bản thể hiện quan điểm của mình về yêu cầu khởi kiện của bà N. Cho thấy ông M không quan tâm đến tâm tư, tình cảm của bà N, cũng như không mong muốn giải quyết mâu thuẫn để vợ chồng tiếp tục chung sống hòa thuận. Xét mâu thuẫn vợ chồng của bà N, ông M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.
[4] Về con chung: Bà N và ông M có 02 con chung là Phạm Anh T, sinh năm 1987 và Phạm Phương N1, sinh năm 1992, đều đã trên 18 tuổi, bà N không yêu cầu giải quyết, ông M không ý kiến, nên không xét.
[5] Về chia tài sản: Bà N không yêu cầu giải quyết, ông M không ý kiến, nên không xét.
[6] Về án phí: Bà N là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, thuộc trường hợp được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ngày 01/10/2025, Tòa án đã ra Thông báo số 53/2025/TB-TA miễn án phí sơ thẩm cho bà N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Phạm Văn M.
- Về con chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về chia tài sản: Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thủy |
Bản án số 68/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 68/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
