Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 679/2025/HS-PT

Ngày: 25 -12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Như Lạc - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau - Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 371/2025/TLPT-HS ngày 20/10/2025 đối với các bị cáo Võ Thành Đ và Đàm Mai Tất Đ1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự số 59/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Võ Thành Đ (tên gọi khác: Đ1, H), sinh ngày 15/11/1972 tại Chợ M, An Giang; số CCCD: 089072000250, cấp ngày: 17/6/2023, nơi cấp: Cục C về TTXH Bộ C1; nơi cư trú: Số H, P, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Kinh Doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thuận H1 (đã chết) và bà Hồ Thị Thanh H2; vợ tên Võ Thị Ngọc H3 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 20/6/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.
  2. Đàm Mai Tất Đ1, sinh ngày 03/12/1991 tại tỉnh Bạc Liêu (nay là tỉnh Cà Mau); số CCCD: 095091008704; cấp ngày: 04/8/2020, nơi cấp: Cục C về TTXH Bộ C1; nơi cư trú: Số H, đường H, khóm D, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường B, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Nguyên Giám đốc Công ty TNHH B; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Minh H4 và bà Mai Thị T; vợ tên Lâm Thủy T1 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo đang chấp hành 12 năm tù về tội “Tàng trữ tiền giả” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 677/2024/HS-PT ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Bị cáo có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo theo chỉ định:

  • Luật sư Quách Ngọc L – Đoàn luật sư tỉnh C bào chữa cho bị cáo Đàm Mai Tất Đ1.
  • Luật sư Huỳnh Tấn A – Đoàn luật sư tỉnh C bào chữa cho bị cáo Đàm Mai Tất Đ1.

(Ngoài ra, vụ án còn có bị hại không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/10/2023, ông Phạm Văn S, Giám đốc Công ty TNHH L2 là đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam của Công ty R – Singapore (gọi tắt là Công ty R), có đơn tố giác Võ Thành Đ có hành vi gian dối chiếm đoạt số tiền 485.000 USD của Công ty R.

Quá trình điều tra, xác định: Đoạt là người đại diện theo pháp luật của các Công ty TNHH S2, Chi nhánh Công ty TNHH M, Chi nhánh Công ty cổ phần X, nhưng đều kinh doanh thua lỗ, đã ngưng hoạt động. Thông qua mối quan hệ kinh doanh, Đ quen biết với Đàm Mai Tất Đ1 là Giám đốc Công ty TNHH B, địa chỉ: Số C, P, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường B, tỉnh Cà Mau; gọi tắt là Công ty B) theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh B (nay là tỉnh Cà Mau) cấp; ngành nghề kinh doanh: “bán buôn chuyên doanh khác chưa được phân vào đâu. Chi tiết: bán buôn bao bì".

Khoảng tháng 5/2020, lợi dụng tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp xảy ra tại Việt Nam và thế giới. Đoạt và Đ1 đã thoả thuận, thống nhất Đoạt làm người đại diện cho Công ty B tham gia giao dịch, ký kết hợp đồng mua bán găng tay y tế với các đối tác trong và ngoài nước, còn Đ1 cung cấp các thông tin như: Địa chỉ, logo, email, con dấu và số tài khoản của Công ty B mở tại Ngân hàng để nhận giao dịch chuyển tiền. Mặc dù cả 02 đều biết Công ty B không có nguồn hàng và giấy phép đăng ký kinh doanh mặt hàng có điều kiện theo quy định của pháp luật.

Thông qua ứng dụng Whatsapp (số điện thoại của Võ Thành Đ +84903984698 và ông Lee Liang S1 (Dhaniel Lee) +658727963), Đ đã trao đổi, thoả thuận với ông Lee Liang S1 (Dhaniel Lee) - Giám đốc Công ty R, đưa ra thông tin gian dối là Công ty B có đủ điều kiện kinh doanh cung cấp sản phẩm găng tay y tế Nitrile không bột, nên Công ty R tin tưởng đồng ý mua sản phẩm.

Ngày 18/5/2020, Đ đại diện cho Công ty B ký kết Hợp đồng số HCM001/05/20 với ông Lee Liang S1 (Dhaniel Lee) có nội dung: “loại sản phẩm: găng tay Nitrile không bột, tổng trị giá: 684.000 USD; phương thức thanh toán: đợt 1 thanh toán đặt cọc 485.000 USD cho Công ty B...; thời hạn giao hàng là: từ ngày 25 đến ngày 27/5/2020, số lượng 7.500 thùng (thành 02 Container); địa điểm bốc hàng: Cảng C - Thành phố Hồ Chí Minh; hình thức thanh toán: chỉ được thanh toán bằng chuyển khoản Ngân hàng; hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày ký là 18/5/2020; số điện thoại liên hệ là +84903984698; email: 365geek@gmail.com...”. Đ1 là người đóng dấu Công ty B vào Hợp đồng nêu trên. Cùng ngày, Đ sử dụng email “Sagimexvid@gmail.com” gửi Hợp đồng số HCM001/05/20 cho Công ty R tại Singapore qua địa chỉ email "dhaniel.rht@gmail.com” của ông Lee Liang S1 (D).

Trên cơ sở Hợp đồng đã ký kết, ngày 19/5/2020, Công ty R đã chuyển số tiền đặt cọc là 485.000 USD vào tài khoản số 101217480 của Công ty B mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N - chi nhánh B1 (gọi tắt Ngân hàng V - chi nhánh B1), sau khi trừ phí dịch vụ, Công ty B nhận được số tiền 484.944,5 USD.

Ngày 20/5/2020, Đ1 đến Ngân hàng V - chi nhánh B1 ký giấy chuyển toàn bộ số tiền 484.944,5 USD vào tài khoản số 0891000644144 (tài khoản giao dịch tiền Việt Nam) của Công ty B, quy đổi 484.944,5 USD thành số tiền 11.245.851.000 đồng và chuyển toàn bộ số tiền này vào số tài khoản 060005632067 của Đ mở tại Ngân hàng TMCP S3 - chi nhánh Thành phố H, nội dung: “Chuyển tiền mua hàng cho Đ1 (Đoạt), đại diện KH (DHANIEL LEE)”. Ngày 22/5/2020, Đ1 ký Giấy ủy quyền cho Đ đại diện Công ty B ký tất cả giấy tờ có liên quan đến lĩnh vực mua bán trang thiết bị y tế xuất nhập khẩu.

Sau khi nhận được số tiền 11.245.851.000 đồng, Đ và Đ1 đã không thực hiện việc giao sản phẩm găng tay y tế theo đúng nội dung hợp đồng đã ký kết với Công ty R. Đến ngày giao hàng (từ ngày 25/5/2020 - 27/5/2020) theo Hợp đồng số HCM001/05/20, nhưng Công ty B không giao hàng cho Công ty R. Ngày 29/5/2020, Đ đại diện Công ty B ký T2 đề nghị thanh toán “LETTER REQUEST OF PAYMENT” gửi Công ty R yêu cầu tiếp tục chuyển số tiền còn lại trong Hợp đồng số HCM001/05/20. Đại diện Công ty R yêu cầu phải có “Thư xác nhận việc Công ty R chuyển tiền cho Công ty B là mua găng tay y tế” của Công ty B mới tiến hành các thủ tục chuyển tiền tiếp theo. Ngày 25/6/2020, Đ1 đã ký văn bản Thư giải trình “LETTER OF INTERPRETATION” gửi cho Công ty R, xác nhận: “Công ty B là công ty con của Công ty K” nhằm mục đích tiếp tục yêu cầu Công ty R chuyển tiền cho Công ty B.

Tại Cáo trạng số 18/CT-VKSCM-P1 ngày 01 tháng 8 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đã truy tố Đ và Đ1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại bản án hình sự số 59/2025/HS-ST ngày 11/9/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau quyết định:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm 1 khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Thành Đ; áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đàm Mai Tất Đ1:

1.1. Tuyên bố các bị cáo Võ Thành Đ và Đàm Mai Tất Đ1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

1.2. Mức hình phạt:

  • - Phạt bị cáo Đ 19 (mười chín) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/6/2024;
  • - Phạt bị cáo Đ1 16 (mười sáu) năm tù. Tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) năm tù theo Bản án hình sự phúc thẩm số 677/2024/HS-PT ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 28 (hai mươi tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/6/2022.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về việc xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • - Ngày 17/9/2025, bị cáo Võ Thành Đ (đơn đề ngày 15/9/2025) kháng cáo với nội dung: Về trách nhiệm hình sự, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Về trách nhiệm dân sự, do hoàn cảnh khó khăn nên chưa khắc phục cho bị hại.
  • - Ngày 22/9/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau nhận được đơn kháng cáo của bị cáo Đàm Mai Tất Đ1 (đơn đề ngày 22/9/2025) với nội dung: Về trách nhiệm hình sự, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Về trách nhiệm dân sự, bị cáo không đồng ý liên đới với bị cáo Đ bồi thường cho bị hại với lý do bị cáo không thu lợi bất chính trong số tiền mà bị hại đã chuyển.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Các bị cáo Đ, Đ1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • - Các Luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị xem xét lại vai trò của bị cáo Đ1 để chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho 02 bị cáo.
  • - Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm - Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Võ Thành Đ 19 năm tù và bị cáo Đàm Mai Tất Đ1 16 năm tù là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không xuất trình được tình tiết gì mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Võ Thành Đ và bị cáo Đàm Mai Tất Đ1 thừa nhận hành vi, tội danh như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Do đó, có cơ sở xác định:

Quá trình điều tra, mặc dù các bị cáo đổ lỗi cho nhau về việc người soạn thảo, ký và gửi bản Hợp đồng số HCM001/05/20 với Công ty R, cũng như người phải chịu trách nhiệm tìm kiếm nguồn hàng găng tay y tế để cung cấp cho Công ty R. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu điện tử như: số điện thoại, địa chỉ E, tài khoản chuyển tiền của Công ty B tại Ngân hàng V - Chi nhánh B1 và tài khoản Ngân hàng TMCP S3 – Chi nhánh Thành phố H. Đã đủ căn cứ chứng minh các bị cáo đã bàn bạc, thống nhất để bị cáo Đ đại diện Công ty B ký Hợp đồng số HCM001/05/20 với Công ty R nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt số tiền 11.245.851.000 đồng, vì bị cáo Đ không phải là người đại diện theo pháp luật của Công ty B và không có mua bán găng tay y tế.

Với những hành vi nêu trên, Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Võ Thành Đ và bị cáo Đàm Mai Tất Đ1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, không oan cho các bị cáo.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, thấy rằng:

Tội phạm các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Lợi dụng tình hình dịch bệnh Covid-19 đang có nhu cầu cấp thiết về trang thiết bị găng tay y tế phòng, chống dịch bệnh, các bị cáo đưa ra thông tin gian dối về khả năng cung ứng sản phẩm găng tay y tế để Công ty R tin tưởng ký kết Hợp đồng mua bán nhằm chiếm đoạt số tiền 11.245.851.000 đồng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương. Trong vụ án này, bị cáo Đ là người thực hành trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội thông qua các hành vi liên hệ, trao đổi, đàm phán, gửi và ký kết hợp đồng với phía Công ty R. Còn bị cáo Đ1 là đồng phạm giúp sức cho bị cáo Đ thông qua việc cung cấp các thông tin (gồm: L1, địa chỉ, số tài khoản, con dấu); các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; các bị cáo lợi dụng dịch bệnh để phạm tội; số tiền chiếm đoạt đặc biệt lớn; bản thân bị cáo Đ1 đang phải chấp hành một bản án 12 năm về tội “Tàng trữ tiền giả” để xử phạt bị cáo Đ 19 năm tù, bị cáo Đ1 16 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi mà bị cáo đã gây ra. Đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương.

Các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên không có căn cứ để giảm hình phạt cho các bị cáo.

[3]. Xét kháng cáo của bị cáo Đ1 về trách nhiệm dân sự, thấy rằng:

Số tiền 11.245.851.000 đồng của bị hại Công ty R đã được chuyển vào số tài khoản 060005632067 của Đ mở tại Ngân hàng TMCP S3 - chi nhánh Thành phố H. Như đã nhận định ở mục [2], bị cáo Đ1 đồng phạm giúp sức cho bị cáo Đ nên các bị cáo phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả theo như quyết định bản án sơ thẩm là phù hợp.

[4]. Quan điểm của Viện công tố và xét xử phúc thẩm đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[5]. Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Đ, Đ1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Võ Thành Đ và Đàm Mai Tất Đ1; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 59/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Thành Đ (tên gọi khác: Đ1, H) và bị cáo Đàm Mai Tất Đ1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm 1 khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Thành Đ; áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đàm Mai Tất Đ1.
    • - Xử phạt bị cáo Võ Thành Đ 19 (mười chín) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/6/2024;
    • - Xử phạt bị cáo Đàm Mai Tất Đ1 16 (mười sáu) năm tù. Tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) năm tù theo Bản án hình sự phúc thẩm số 677/2024/HS-PT ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 28 (hai mươi tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/6/2022.
  3. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Các điều 584, 587 và 589 của Bộ luật Dân sự.

    Buộc các bị cáo Võ Thành Đ và bị cáo Đàm Mai Tất Đ1 phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Công ty R - Singapore số tiền 11.245.851.000 (mười một tỷ hai trăm bốn mươi lăm triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn) đồng. Trong đó, phần hoàn trả của từng bị cáo là 5.622.925.500 (năm tỷ sáu trăm hai mươi hai triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn năm trăm) đồng.

  4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Võ Thành Đ2 và Đàm Mai Tất Đ1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VCT&KSXXPT VKSNDTC tại Tp.HCM (1);
  • - TAND tỉnh Cà Mau (1);
  • - VKSND tỉnh Cà Mau (1);
  • - THADS tỉnh Cà Mau (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Công an tỉnh Cà Mau (1);
  • - Lưu VP 5b – 17b NThuy.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 679/2025/HS-PT ngày 25/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 679/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự số 59/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger