Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 677/2025/DS-PT

Ngày: 31 - 12 - 2025

V/v Tranh chấp chia di sản

thừa kế là quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang.

Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Trung;

Ông Nguyễn Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 494/2025/TLPT-DS ngày 31 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 626/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 11 năm 2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 1387/2025/TB-TA ngày 04 tháng 12 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số 422/2025/QĐPT-DS ngày 19 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thiện T, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Số C, ấp H, xã G, tỉnh Vĩnh Long. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn:

1) Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1986; (có mặt)

Địa chỉ: Số F, ấp H, xã G, tỉnh Vĩnh Long.

2) Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Số A, ấp H, xã G, tỉnh Vĩnh Long. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1) Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Hồ Thị Lan H2 - Chủ tịch Ủy ban nhân

dân xã G, tỉnh Vĩnh Long. (có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)

2) Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1978; (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số F, ấp H, xã G, tỉnh Vĩnh Long.

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H và bà Nguyễn Thị Ngọc H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm,

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Khi còn sống, cha mẹ của ông T, bà H, bà H1 là ông Nguyễn Văn Tính E (chết năm 2023) và bà Nguyễn Thị P (chết năm 2017) tạo lập khối tài sản là phần đất diện tích 1306m² (trong đó có 300m² đất thổ cư) thuộc thửa 81, 320, 321, tờ bản đồ số 23, tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là thửa 81, tờ bản đồ số 11 được cấp đổi từ thửa 1444 và 1445, tờ bản đồ số 1, tọa lạc xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre). Ông Nguyễn Văn Tính E chết năm 2023 và bà Nguyễn Thị P chết năm 2017, không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn T2 Em hiện tại còn 03 người con là Nguyễn Thiện T, Nguyễn Thị Ngọc H, Nguyễn Thị Ngọc H1. Hiện trên phần đất này có 01 căn nhà do bà H hiện đang ở của ông bà ngoại để lại, 01 căn nhà là của cha mẹ để lại và một số cây trồng không có giá trị.

Do không thỏa thuận được về việc chia di sản thừa kế nên nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với phần đất thửa 81, tờ bản đồ số 11, tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre), chia thành 03 phần bằng nhau, ông T nhận 01 phần tại vị trí giáp thửa 92, phần đất ông T yêu cầu được nhận có diện tích 300m² trong đó có 100m² đất thổ cư, yêu cầu bà H tự di dời tài sản của bà H, ông T đồng ý bồi thường theo quy định.

Đối với căn nhà thờ do cha mẹ để lại và căn nhà bà H đang ở cùng cây trồng trên đất, ông T không có ý kiến hay yêu cầu gì. Ai nhận phần nào tự quản lý cây trồng trên phần đất được nhận.

Đối với tờ di chúc ngày 14/5/2013, ông T xác định đúng là chữ ký của bà Nguyễn Thị P nhưng không đồng ý với tờ di chúc vì khi bà P lập di chúc, ông Tính E và ông T không biết.

Ông T đồng ý với kết quả đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá, không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Đối với các phần mộ có trên đất là mộ của người khác, không phải mộ của người trong gia đình, ông T không có ý kiến tranh chấp và không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Về chi phí tố tụng: Ông T yêu cầu giải quyết theo quy định.

Theo đơn phản tố, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H, bà Nguyễn Thị Ngọc H1 và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Cha mẹ của bà H1, bà H, ông T là ông Nguyễn Văn T2 Em chết năm 2023 và bà Nguyễn Thị P chết năm 2017. Ông Tính E và bà P có 03 người con và hiện tại hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn Tính E còn 03 người con là ông Nguyễn Thiện T, bà Nguyễn Thị Ngọc H, bà Nguyễn Thị Ngọc H1.

Khi còn sống, bà Nguyễn Thị P được thừa hưởng riêng của ông bà ngoại phần đất diện tích 1.100m² thuộc thửa 1444 và 1445 tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre), bà P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0411290 ngày 16/4/1994. Năm 2014, bà P thực hiện thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ thửa 1444 và 1445, tờ bản đồ số 01 thành thửa 81, tờ bản số 11, với diện tích được cấp đổi là 1.306m² đất tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre), bà P được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 998293 ngày 15/4/2014. Căn cứ vào Họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 17/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ) thì phần đất trên hiện thuộc các thửa 88, 320, 321 tờ bản đồ số 23, tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre).

Ngày 14/5/2013, bà Nguyễn Thị P lập Tờ di chúc để lại cho hai chị em bà Nguyễn Thị Ngọc H và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 phần đất diện tích 1.100m² thuộc thửa 1444 và 1445 tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0411290 ngày 16/4/1994. Tờ di chúc ngày 14/5/2013 được lập tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long) chứng thực số 01, quyển số 1TP/CC-SCT/HĐGD.

Trên phần đất hiện tại có 01 căn nhà của cha mẹ để lại (nằm trên thửa 81, tờ bản đồ số 23); 01 căn nhà và công trình phụ (chuồng gà, nhà bếp) của vợ chồng bà H và ông T1 đang ở (nằm trên thửa 320, 321, tờ bản đồ số 23).

Đối với yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế theo pháp luật của ông Nguyễn Thiện T thì các bị đơn không đồng ý.

Các bị đơn phản tố yêu cầu công nhận Tờ di chúc ngày 14/5/2013; yêu cầu công nhận phần đất diện tích 1.100m² đất trong đó có 300m² thổ cư và căn nhà thờ thuộc một phần thửa 81, 320, 321, tờ bản đồ số 23, tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là thửa 81, tờ bản đồ số 11 được cấp đổi từ thửa 1444 và 1445, tờ bản đồ số 1 tọa lạc xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre) cho bà Nguyễn Thị Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc H cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Phần diện tích còn lại là 206m² đất thuộc một phần thửa 81, 320, 321, tờ bản đồ số 23, tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre) chia thừa kế theo pháp luật, chia 03 phần, mỗi người nhận 01 phần tương đương diện tích 68,6m². Bà H, bà H1 yêu cầu nhận toàn bộ đất, trả lại giá trị phần diện tích ông T được nhận theo giá định giá.

Về kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá: đồng ý, không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Đối với các phần mộ có trên đất là mộ của người khác, không phải mộ của người trong gia đình, không có ý kiến tranh chấp và không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Đối với cây trồng trên đất không có ý kiến hay yêu cầu gì, nhận phần nào tự xử lý cây trồng trên đất được nhận.

Về chi phí tố tụng: yêu cầu giải quyết theo quy định.

Trong trường hợp tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà H yêu cầu Tòa án xem xét việc bồi thường nhà và tài sản của bà H.

Theo đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông Huỳnh Văn T1 trình bày:

Ông T1 là chồng bà Nguyễn Thị Ngọc H. Trên phần đất thửa 81, 320, 321, tờ bản đồ số 23, tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là thửa 81, tờ bản đồ số 11 được cấp đổi từ thửa 1444 và 1445, tờ bản đồ số 1, tọa lạc xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre) có 01 căn nhà của ông bà ngoại do bà H, ông T1 đang ở và chuồng trại do vợ chồng ông T1 và bà H xây dựng. Ông không có ý kiến yêu cầu tranh chấp gì đối với tài sản, công trình, cây trồng trên đất, không có tranh chấp gì đối với thửa 81, 320, 321, tờ bản đồ số 23, tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là thửa 81, tờ bản đồ số 11 được cấp đổi từ thửa 1444 và 1445, tờ bản đồ số 1, tọa lạc xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre). Đề nghị Tòa án tiến hành tố tụng và xét xử vụ án vắng mặt ông T1.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long quyết định (tóm tắt):

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thiện T, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H1, bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 1306m² thuộc thửa 81, 320, 321, tờ bản đồ số 23, tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là thửa 81, tờ bản đồ số 11 được cấp đổi từ thửa 1444 và 1445, tờ bản đồ số 1 tọa lạc xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre):

Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, bà Nguyễn Thị Ngọc H được cùng nhận quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất 81, 320, tờ bản đồ số 23, tổng diện tích 1.082,7m², trong đó có 250m² đất thổ cư (bao gồm các vị trí ký hiệu 81-1, 81-2, 81-3, 81-4, 81-5, 320-1, 320-2, 320-3, 320-4, 320-5, 320-6) tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre), trên đất có khu mộ đất, một đá ong, 01 căn nhà gỗ, 01 căn nhà tường (nhà thờ), 01 căn nhà tường của bà H và ông T1 đang ở, 01 nhà bếp, chuồng gà của bà H, ông T1 và cây trồng trên đất.

Ông Nguyễn Thiện T được nhận quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất 321, tờ bản đồ số 23, diện tích 223,3m², trong đó có 50m² đất thổ cư (bao gồm các vị trí ký hiệu 321-1, 321-2, 321-3, 321-4) cùng cây trồng trên đất tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre).

Có họa đồ kèm theo - Họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 17/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Vĩnh Long).

Các bên đương sự liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích và vị trí mình được nhận.

Ông Nguyễn Thiện T có nghĩa vụ hoàn trả lại bà Nguyễn Thị Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc H số tiền là 11.823.000 (mười một triệu tám trăm hai mươi ba nghìn) đồng.

Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Huỳnh Văn T1 di dời chuồng gà tại vị trí 321-2, 321-3 (Có họa đồ kèm theo - Họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 17/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C, nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực 18, tỉnh Vĩnh Long).

Buộc ông T có nghĩa vụ bồi thường cho bà H giá trị chuồng gà phải di dời theo định giá số tiền là 13.333.700 (mười ba triệu ba trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm) đồng.

Ghi nhận các bên đương sự không tranh chấp đối với căn nhà thờ do cha mẹ để lại, căn nhà bà H đang ở và cây trồng trên đất.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng khác, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 23/9/2025, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H và Nguyễn Thị Ngọc H1 có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu phản tố của bà H và bà H1.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn ông T trình bày: Nguyên đơn không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm và nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bị đơn bà H1 có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của bà và bà H.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 19/12/2025, bà H xin rút toàn bộ kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 31/12/2025, bà H thay đổi ý kiến và trình bày bà không rút kháng cáo, bà giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu chấp nhận kháng cáo của bà và bà H1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, yêu cầu chấp nhận kháng cáo của bà H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã G có đại diện theo pháp luật là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã G có văn bản xin vắng mặt.

Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 148, 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị đơn không được chấp nhận nên các bị đơn phải chịu án phí mỗi người là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H và bà Nguyễn Thị Ngọc H1, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Bà Nguyễn Thị Ngọc H và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 kháng cáo và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa ngày 19/12/2025, bà H xin rút đơn kháng cáo. Tuy nhiên, do bà H1 cũng có kháng cáo nhưng có đơn xin vắng mặt nên bà H đề nghị Tòa án cho thời gian để trao đổi với bà H1 cùng rút kháng cáo. Tại phiên tòa hôm nay, bà H thay đổi ý kiến, bà không rút đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết kháng cáo của bà và bà H1 nên Hội đồng xét xử tiếp tục xem xét giải quyết đối với kháng cáo của bà H và bà H1 theo quy định pháp luật.

[1.2] Ông T, bà H1, ông T1, người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân xã G có đơn xin vắng mặt. Theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà H1, ông T1, người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân xã G.

[2] Về nội dung:

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc H và bà Nguyễn Thị Ngọc H1, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Ông Nguyễn Thiện T, bà Nguyễn Thị Ngọc H và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 thống nhất các nội dung:

Cha mẹ của bà H1, bà H, ông T là ông Nguyễn Văn T2 Em chết năm 2023 và bà Nguyễn Thị P chết năm 2017. Ông Tính E và bà P có 03 người con và hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn T2 Em hiện tại còn 03 người con là Nguyễn Thiện T, Nguyễn Thị Ngọc H, Nguyễn Thị Ngọc H1.

Ngày 16/4/1994, bà P được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1444 và 1445, tờ bản đồ số 1, tọa lạc xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre, tổng diện tích 1.100m². Ngày 15 tháng 4 năm 2014, bà P được Ủy ban nhân dân huyện C cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 81, tờ bản đồ số 11 diện tích 1306m². Theo đo đạc hiện nay, phần đất diện tích 1306m² thuộc các thửa 81, 320, 321, tờ bản đồ số 23, tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long. Mặc dù khi được cấp đổi giấy chứng quyền sử dụng đất năm 2014 có tăng diện tích so với lần được cấp giấy chứng quyền sử dụng đất năm 1994 nhưng các bên đương sự trình bày thống nhất về vị trí đất, ranh đất mà bà P và ông Tính E sử dụng từ năm 1994 đến nay không có sự thay đổi, không biết rõ lý do tăng diện tích. Bà P và ông Tính E cùng canh tác, quản lý, sử dụng đất từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến khi bà P chết.

Các đương sự đều thống nhất ngoài di Tờ di chúc của bà P lập vào ngày 14/5/2013 nội dung di chúc cho bị đơn bà H và bà H1 được hưởng các thửa đất 1444 và 1445, tờ bản đồ số 1 thì bà P và ông Tính E không có văn bản nào phân chia thửa đất 1444 và 1445, tờ bản đồ số 1, bà P cũng không có thay đổi, bổ sung di chúc, ông Tính E cũng không lập di chúc.

[2.2] Bị đơn cho rằng phần đất này là tài sản bà P được cha mẹ tặng cho riêng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc bà P được tặng cho riêng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H cho rằng trước đây trong gia đình có tranh chấp và bà P được Tòa án quyết định giao cho phần đất này nhưng bà H không xác định được thời điểm giải quyết, không cung cấp được bản án, quyết định của Tòa án nên không có cơ sở xem xét lời trình bày này của bà H.

[2.3] Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, cả ông T và bà H cùng trình bày bà P và ông Tính E có đăng ký kết hôn nhưng không còn thông tin về vấn đề đăng ký kết hôn giữa bà P và ông Tính E. Tuy nhiên, người con lớn nhất của bà P và ông Tính E là bà Hiếu sinh năm 1986. Như vậy, quan hệ vợ chồng của bà P và ông Tính E được xác lập trước ngày 03/01/1987. Theo thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03 tháng 01 năm 2001, trường hợp này, nếu không có đăng ký kết hôn thì cũng được thừa nhận là hôn nhân thực tế.

Bà P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu thửa 1444 và 1445, tờ bản đồ số 1 vào năm 1994, thời điểm này, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực. Theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 thì “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung.”. Bà P đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu thửa 1444 và 1445 khi sống chung ông Tính E, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P không có căn cứ xác định đất là tài sản bà P được tặng cho riêng. Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh các thửa đất tranh chấp là tài sản riêng của bà P nên thửa 1444 và 1445, tờ bản đồ số 1 là tài sản chung của vợ chồng bà P, ông Tính E và là di sản thừa kế theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuy nhiên, vào ngày 14/5/2013, bà P tự ý lập Tờ di chúc định đoạt toàn bộ các thửa đất 1444 và 1445, tờ bản đồ số 1 cho bà H và bà H1 mà không có sự đồng ý của ông Tính E. Di chúc của bà P đã định đoạt vượt quá phần tài sản bà P được quyền định đoạt nên chỉ có hiệu lực đối với phần tài sản của bà P trong tài sản chung với ông Tính E là ½ diện tích đất theo đo đạc thực tế. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm công nhận một phần Tờ di chúc ngày 14/5/2013 của bà P, giải quyết cho bà Nguyễn Thị Ngọc H và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 cùng quản lý sử dụng phần đất với diện tích 653m², trong đó có 150m² đất thổ cư; phần diện tích còn lại 653m², trong đó có 150m² đất thổ cư là di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn T2 Em chưa chia, ông T2 Em chết không để lại di chúc, bà P chết trước ông Tính E nên phần di sản này được chia thành 03 phần cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Tính E gồm ông Nguyễn Thiện T, bà Nguyễn Thị Ngọc H, bà Nguyễn Thị Ngọc H1, mỗi phần có diện tích 217,67m², trong mỗi phần có 50m² đất thổ cư thuộc một phần thửa 81, 320, 321, tờ bản đồ số 23, tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là thửa 81, tờ bản đồ số 11 được cấp đổi từ các thửa 1444 và 1445, tờ bản đồ số 1 tọa xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre) là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H cung cấp “Đơn xin trình bày ý kiến về việc làm chứng về phần đất tranh chấp” của ông Nguyễn Thiện H3, nội dung ông H3 cho rằng ông là em ruột của bà P, ông xác nhận nguồn gốc các thửa đất 1444 và 1445 là tài sản của cha mẹ cho riêng bà P, không phải là tài sản chung của bà P và ông Tính E, tuy nhiên, đây chỉ là lời trình bày, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà Nguyễn Thị Ngọc H1, bà Nguyễn Thị Ngọc H được cùng nhận quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất 81, 320, tờ bản đồ số 23, tổng diện tích 1.082,7m², trong đó có 250m² đất thổ cư (bao gồm các vị trí ký hiệu 81-1, 81-2, 81-3, 81-4, 81-5, 320-1, 320-2, 320-3, 320-4, 320-5, 320-6) tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre), trên đất có khu mộ đất, một đá ong, 01 căn nhà gỗ, 01 căn nhà tường (nhà thờ), 01 căn nhà tường của bà H và ông T1, 01 nhà bếp và chuồng gà của bà H và ông T1; ông Nguyễn Thiện T được nhận quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất 321, tờ bản đồ số 23, diện tích 223,3m², trong đó có 50m² đất thổ cư (bao gồm các vị trí ký hiệu 321-1, 321-2, 321-3, 321-4) cùng cây trồng trên đất tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre) là phù hợp.

Do ông T nhận vị trí có diện tích nhiều hơn diện tích được chia là 5,63m² nên ông T có nghĩa vụ hoàn trả lại bà Nguyễn Thị Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc H số tiền là 11.823.000 đồng. Trên phần đất ông T được nhận có chuồng gà của bà H và ông T1 xây dựng nên buộc bà H và ông T1 di dời chuồng gà tại vị trí 321-2, 321-3. Ông T1 không có yêu cầu gì trong vụ án này nên ghi nhận. Ông T đồng ý bồi thường cho bà H nên ghi nhận. Buộc ông T có nghĩa vụ bồi thường cho bà H giá trị chuồng gà phải di dời theo định giá số tiền là 13.333.700 đồng là phù hợp.

[2.4] Các bên đương sự không tranh chấp, không có yêu cầu gì đối căn nhà thờ, căn nhà bà H đang ở và cây trồng trên đất nên ghi nhận.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H, bà H1 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà H, bà H1.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà H, bà H1 mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc H và bà Nguyễn Thị Ngọc H1;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long.

Căn cứ các điều 147, 148, 157, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 612, 614, 623, 624, 625, 627, 649, 650, 651, 659, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 166, 167, 188, 203 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ các điều 26, 27, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thiện T, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H1, bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 1306m² thuộc thửa 81, 320, 321, tờ bản đồ số 23, tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là thửa 81, tờ bản đồ số 11 được cấp đổi từ thửa 1444 và 1445, tờ bản đồ số 1, tọa lạc xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre):

1.1. Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, bà Nguyễn Thị Ngọc H được cùng nhận quản lý, sử dụng toàn bộ các thửa đất 81, 320, tờ bản đồ số 23, tổng diện tích 1.082,7m², trong đó có 250m² đất thổ cư (bao gồm các vị trí ký hiệu 81-1, 81-2, 81-3, 81-4, 81-5, 320-1, 320-2, 320-3, 320-4, 320-5, 320-6) tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre), trên đất có khu mộ đất, một đá ong, 01 căn nhà gỗ, 01 căn nhà tường (nhà thờ), 01 căn nhà tường của bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Huỳnh Văn T1 đang ở, 01 nhà bếp, chuồng gà của bà Nguyễn Thị Ngọc H, ông Huỳnh Văn T1 và cây trồng trên đất.

1.2. Ông Nguyễn Thiện T được nhận quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất 321, tờ bản đồ số 23, diện tích 223,3m², trong đó có 50m² đất thổ cư (bao gồm các vị trí ký hiệu 321-1, 321-2, 321-3, 321-4) cùng cây trồng trên đất tọa lạc xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre).

(Có kèm theo Họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 17/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Bến Tre, nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực 18, tỉnh Vĩnh Long).

1.3. Các bên đương sự liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích và vị trí được nhận.

1.4. Ông Nguyễn Thiện T có nghĩa vụ hoàn trả lại bà Nguyễn Thị Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc H số tiền là 11.823.000 (mười một triệu, tám trăm hai mươi ba nghìn) đồng.

1.5. Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Huỳnh Văn T1 di dời chuồng gà tại vị trí 321-2, 321-3 (có kèm theo Họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 17/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Bến Tre, nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực 18, tỉnh Vĩnh Long).

1.6. Buộc ông Nguyễn Thiện T có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị Ngọc H giá trị chuồng gà phải di dời theo định giá số tiền là 13.333.700 (mười ba triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, bảy trăm) đồng.

1.7. Ghi nhận các bên đương sự không tranh chấp đối với căn nhà thờ do cha mẹ để lại, căn nhà bà Nguyễn Thị Ngọc H đang ở, cây trồng trên đất.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong.

2. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc H liên đới trả lại cho ông Nguyễn Thiện T số tiền chi phí tố tụng là 12.474.400 (mười hai triệu, bốn trăm bảy mươi bốn nghìn, bốn trăm) đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Thiện T phải chịu án phí là 23.084.280 (hai mươi ba triệu, không trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm tám mươi) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 25.575.000 (hai mươi lăm triệu, năm trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai tạm ứng án phí số 0006312 ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Vĩnh Long). Ông Nguyễn Thiện T được hoàn lại số tiền 2.490.720 (hai triệu, bốn trăm chín mươi nghìn, bảy trăm hai mươi) đồng.

- Bà Nguyễn Thị Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc H phải liên đới chịu án phí là 79.710.280 (bảy mươi chín triệu, bảy trăm mười nghìn, hai trăm tám mươi) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 43.182.200 (bốn mươi ba triệu, một trăm tám mươi hai nghìn, hai trăm) đồng theo biên lai tạm ứng án phí số 0001589 ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Nguyễn Thị Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc H phải liên đới nộp tiếp số tiền là 36.528.080 (ba mươi sáu triệu, năm trăm hai mươi tám nghìn, không trăm tám mươi) đồng.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm mỗi người 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mỗi người đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo các biên lai thu tạm ứng án phí, án phí số 0003795 và 0003792 cùng ngày 01 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà H, bà H1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - TAND KV5 - Vĩnh Long;
  • - Phòng THADS KV5 - Vĩnh Long;
  • - Phòng GĐ, KT, TT & THA TAND tỉnh;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 677/2025/DS-PT ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 677/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thiện Tâm - Nguyễn Thị Ngọc Hiếu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger