|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST Ngày: 31-12-2025 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Liên
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Triển
- Ông Phùng Văn Thông
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Mạnh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2025/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994 (có mặt).
Nơi ĐKHKTT: Ngõ A, Dương Đôn C, xã Y, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Ngõ C đường P, xã Y, tỉnh Phú Thọ
Bị đơn: Anh Dương Đức N, sinh năm 1990 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Ngõ A, Dương Đôn C, xã Y, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 21/08/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Chị kết hôn cùng anh Dương Đức N vào ngày 09 tháng 11 năm 2011, có đăng ký tại UBND thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Y, tỉnh Phú Thọ). Sau khi kết hôn, chị dọn về nhà anh N ở và làm dâu. Cuộc sống vợ chồng bình thường được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên lời qua tiếng lại. Tình cảm vợ chồng vì thế ngày càng rạn nứt cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ nhiều năm trở lại đây. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn anh Dương Đức N.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Dương Minh N1, sinh ngày 26/01/2011 và cháu Dương Minh H1, sinh ngày 17/03/2013. Hiện nay, các cháu đang ở cùng chị. Tại thời điểm nộp đơn ly hôn, chị đang làm ăn ở nước ngoài nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh N được nuôi con và chị sẽ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh N là 2.500.000đ/tháng/01 cháu. Tuy nhiên, hiện chị đã về Việt Nam sinh sống, làm ăn và đã đón 02 con về ở cùng chị. Do đó, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con. Chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ, đất canh tác và công sức: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, chị H đã ủy quyền cho anh Trần Đức M, sinh năm 2000; trú tại Số A, đường H, phường N, tỉnh Phú Thọ nộp các tài liệu, giấy tờ, nộp các chi phí tố tụng, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án trong thời gian chị ở nước ngoài.
Bị đơn anh Dương Đức N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không làm việc trực tiếp được với anh N.
Qua làm việc với ông Dương Xuân T (bố đẻ của anh Dương Đức N) được biết: Anh N hiện tại đang đi làm ăn xa thi thoảng mới về nhà, về địa chỉ cụ thể về nơi ở, nơi làm việc hiện nay của anh N ở đâu ông không rõ. Gia đình ông đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác của Tòa án gửi cho anh N. Sau khi nhận được văn bản, ông đã thông báo cho anh N được biết. Quan điểm của anh N là đồng ý ly hôn chị H.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Dương Minh N1, sinh ngày 26/01/2011 và cháu Dương Minh H1, sinh ngày 17/03/2013. Hiện nay, chị H đã về nên các cháu đang ở cùng chị H. Ly hôn, anh N và gia đình ông đồng ý để chị H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N1 và cháu H1.
Qua xác minh tại UBND xã Y vào ngày 22/10/2025 được biết: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Dương Đức N có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Y, tỉnh Phú Thọ) vào ngày 09 tháng 11 năm 2011. Hiện nay, chị H và anh N đi làm xa, không có mặt ở địa phương. Anh N, chị H làm gì, địa chỉ cụ thể ở đâu thì địa phương không biết. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có mâu thuẫn như thế nào địa phương không rõ. Anh chị có 02 con chung là Dương Minh N1, sinh ngày 26/01/2011 và cháu Dương Minh H1, sinh ngày 17/03/2013. Nay chị H xin ly hôn anh N, quan điểm địa phương đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng theo quy định pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quy định pháp luật về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H. Cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Dương Đức N.
Về con chung: Giao cho chị H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con. Ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ, công sức, đất canh tác: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Dương Đức N có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Y, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh Dương Đức N thông qua gia đình, người thân thích và tiến hành niêm yết công khai theo quy định pháp luật. Gia đình anh N xác nhận đã nhận và thông báo lại cho anh N biết nhưng anh N vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến bằng văn bản, không có yêu cầu phản tố. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Dương Đức N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Y vào ngày 09/11/2011, nên quan hệ hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp.
Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên lời qua, tiếng lại; không tôn trọng, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau. Hai bên đã ly thân trong thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của vợ chồng.
Kết quả xác minh tại địa phương và qua lời trình bày của đại diện gia đình anh N thể hiện: Anh N đi làm ăn xa, không còn chung sống cùng chị H; gia đình anh N xác nhận anh N đồng ý ly hôn với chị H. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Dương Đức N có 02 con chung là cháu Dương Minh N1, sinh ngày 26/01/2011 và cháu Dương Minh H1, sinh ngày 17/03/2013.
Xét thấy, hiện nay cả hai cháu N1 và H1 đang sinh sống ổn định cùng chị H. Chị H hiện đã về Việt Nam sinh sống, có điều kiện thực tế để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con. Trong khi đó, anh N thường xuyên đi làm ăn xa, không có điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc con thường xuyên, liên tục. Do đó, việc tiếp tục giao các cháu cho chị H nuôi dưỡng sẽ bảo đảm sự ổn định về tâm lý, sinh hoạt và học tập của các cháu. Ngoài ra, gia đình anh N và bản thân anh N đều thống nhất giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; việc này thể hiện sự tự nguyện, không có tranh chấp về quyền nuôi con. Đồng thời, các cháu cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng mẹ, phù hợp với thực tế đang sinh sống.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc giao cả hai cháu Dương Minh N1 và Dương Minh H1 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của con chung. Do chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị H. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản, vay nợ, công sức, đất canh tác: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết; bị đơn không có ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H. Cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Dương Đức N;
-
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thu H được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Dương Minh N1, sinh ngày 26/01/2011 và cháu Dương Minh H1, sinh ngày 17/03/2013 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Ghi nhận việc chị Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu anh Dương Đức N cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003602 ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liên |
Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
