Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/HS-ST

Ngày 22 tháng 12 năm 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Ngọc Nam và bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Nhị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Trương Thị Hoa H, sinh ngày 01/01/1972. Nơi cư trú: số B đường M, khu phố M, phường R, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn P (đã chết) và bà Trịnh Thị P1 (đã chết); chồng Nguyễn Văn D, sinh năm 1970; con có 2 người, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1999.

Tiền án: ngày 18/7/2023, bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ (nay là Toà án nhân dân khu vực 4 - thành phố Cần Thơ) xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 27/5/2024 chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Thái Thị Cẩm N, sinh năm 1965. Nơi cư trú: ấp T, xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hồng T, sinh năm 1964. Nơi cư trú: ấp T, xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Đặng Thuyền T1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 17/8/2025, Trương Thị Hoa H thuê xe mô tô khách của người không rõ nhân thân chở từ nhà ở khu phố M, phường R, tỉnh An Giang về hướng xã T, tỉnh An Giang để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực chợ B thuộc ấp N, xã T, tỉnh An Giang, H kêu người chạy xe dừng lại chờ, còn H đi vào trong khu vực chợ để tìm tài sản trộm. H đến sạp trái cây của Thái Thị Cẩm N phát hiện giỏ túi xách nhựa, màu đỏ, trong giỏ xách có túi đeo chéo, màu đen bên trong có 2.144.000 đồng của N để trên sạp, không người trông giữ nên lấy trộm thì bị Đặng Thuyền T1 phát hiện. Sau đó, H đi ra xe mô tô, T1 đi bộ theo sau. Lúc này, T1 gặp chồng của N tên Lê Hồng T đang điều khiển xe mô tô nên T1 cho T biết H lấy trộm giỏ xách của N nên cả hai đuổi theo giữ H lại, thu giữ vật chứng và trình báo Công an xã T đưa H về trụ sở Công an xã T làm việc và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Ngày 22/8/2025, Trương Thị Hoa H bị khởi tố điều tra.

Vật chứng thu giữ: 01 giỏ xách nhựa màu đỏ, 01 túi đeo chéo màu đen; Tiền Việt Nam 2.144.000 đồng (đã trao trả cho Thái Thị Cẩm N).

Tại Kết luận định giá tài sản số 942 ngày 11/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thường xuyên cấp tỉnh của UBND tỉnh A, kết luận:

  • - 01 giỏ xách nhựa cứng, màu đỏ, có hoa văn đan lưới dạng tròn và ô vuông, tay cầm hình tròn, loại thường dùng để đi chợ mua hàng, nhựa bị lão hoá, bị bể phần nhựa gần phía tay cầm, đã qua sử dụng trị giá: 1.600 đồng;
  • - 01 túi đeo chéo màu đen (không rõ chất liệu) mặt trước có họa tiết caro (ô vuông đen - xám), có 02 ngăn khoá kéo, dây đeo bằng vải dù màu đen, không ghi nhãn hiệu, nguồn gốc, xuất xứ, đã qua sử dụng: do không xác định được đầy đủ thông tin, đặc điểm tài sản (không nêu rõ: nhãn hiệu, xuất xứ, năm đưa vào sử dụng) nên chưa đủ thông tin để khảo sát giá làm cơ sở xác định giá trị tài sản.

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKSKV10, ngày 01/12/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang đã truy tố bị cáo Trương Thị Hoa H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị Hoa H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Bị hại Thái Thị Cẩm N; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Hồng T, người làm chứng Đặng Thuyền T1 trình bày phù hợp như nội dung vụ án nêu trên. Nhỉ đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì và yêu cầu xử lý H theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Thị Hoa H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt bổ sung không. Về xử lý vật chứng không có.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội nêu trên của đại diện Viện Kiểm sát, đồng thời không tranh luận, bào chữa gì khác. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trương Thị Hoa H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 17/8/2025, tại ấp N, xã T, tỉnh An Giang, Trương Thị Hoa H thực hiện hành vi lấy trộm 01 giỏ xách trị giá 1.600 đồng và tiền Việt Nam 2.144.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 2.145.600 đồng của Thái Thị Cẩm N.

Căn cứ quy định pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo Trương Thị Hoa H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe nhưng không chịu lo lao động để nuôi sống bản thân, giúp ích cho gia đình, ngược lại do lười lao động, muốn có tiền tiêu xài mà không phải đổ mồ hôi công sức nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Thị Hoa H đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, học vấn không biết chữ nên hiểu biết pháp luật hạn chế; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số tiền bị cáo lấy trộm không lớn và bị hại đã nhận lại tài sản. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy: Mặc dù bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã có một tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới. Điều này thể hiện bị cáo là người xem thường pháp luật, do đó cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, tuy nhiên mức án Viện kiểm sát đề nghị có phần nghiêm khắc đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Không có.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Thị Hoa H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trương Thị Hoa H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 17/8/2025).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trương Thị Hoa H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 10 - An Giang;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh An Giang;
  • - Cơ quan THAHS-Công an tỉnh An Giang;
  • - Phân trại tạm giam Cô Tô (Cơ sở 3);
  • - Phòng THADS khu vực 10 - An Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 67/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thị Hoa H phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger