Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30 tháng 12 năm 2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Bảo Yến

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Xuân Thư và ông Đào Duy Chuyên

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Trần Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hoá (Cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/12/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Lê Thị T, sinh năm 1975. Số CCCD: 038175020858.

Địa chỉ: Thôn H, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: ông Lê Khoa T1, sinh năm 1975. Số CCCD: 038075024853.

Địa chỉ: Thôn H, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Lê Thị T trình bày:

Bà và ông Lê Khoa T1 tự nguyện cưới năm 2004 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H (cũ), tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới vợ chồng chung sống bình thường được một thời gian đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, và bạo lực gia đình xảy ra liên tục ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông T1.

Về con: ông T1 và bà có 02 con chung là Lê Anh T2, sinh ngày 14/7/1996 và Lê Tuấn T3, sinh ngày 30/10/2005. Hiện cả hai con đều đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: bà có yêu cầu Toà án giải quyết phần tài sản chung của vợ chồng gồm: 01 xe ô tô Mazda CX5, biển kiểm soát 30A – 864.11 mang tên Lê Phú T4 trị giá 700.000.000đ, 01 cỗ ngựa trị giá 70.000.000đ; 01 bộ sập trị giá 30.000.000đ; 01 tủ lạnh trị giá 20.000.000đ; 2 tủ rượu, 1 tủ chè, 1 tủ ly trị giá 50.000.000đ; 360m² đất sản xuất nông nghiệp trị giá 70.000.000đ; 240m² đất làm ao trị giá 100.000.000 đ; Tổng giá trị tài sản = 1.040.000.000₫ ( Một tỷ không trăm bốn mươi triệu đồng).

Về công nợ chung: bà yêu cầu Toà án chia đôi số nợ là 300.000.000đ ( ba trăm triệu đồng) hiện vợ chồng bà còn nợ tiền mua xe ô tô của ông Lê Phú T4, sinh 1957; địa chỉ: số nhà B, phố K, TP Hà Nội.

Ngày 12/8/2025, bà T rút yêu cầu về chia 360m² đất sản xuất nông nghiệp trị giá 70.000.000đ; 240m² đất làm ao trị giá 100.000.000 đ.

Ngày 05/11/2025, Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ bà T xin rút phần yêu cầu chia tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng, không yêu cầu Toà án giải quyết và thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Trong thời hạn 07 ngày, bà T không đồng ý với thỏa thuận nên đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết chia tài sản chung vợ chồng bao gồm: 01 xe ô tô Mazda CX5, biển kiểm soát 30A – 864.11 mang tên Lê Phú T4, 01 cỗ ngựa; 01 bộ sập; 01 tủ lạnh; 2 tủ rượu, 1 tủ chè, 1 tủ; và công nợ chung

Ngày 12/12/2025, tại phiên họp hòa giải lần 2, bà T xin rút yêu cầu về chia công nợ chung và chỉ yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng bao gồm 01 xe ô tô Mazda CX5, biển kiểm soát 30A – 864.11 mang tên Lê Phú T4, 01 cỗ ngựa; 01 bộ sập; 01 tủ lạnh; 2 tủ rượu, 1 tủ chè, 1 tủ ly.

Ngày 23/12/2025, bà T xin rút yêu cầu về chia tài sản chung vợ chồng.

* Theo bản tự khai và các biên bản hòa giải bị đơn là ông Lê Khoa T1 trình bày:

Về hôn nhân: Ông thống nhất với bà T về thời điểm kết hôn, quá trình chung sống và tình trạng mâu thuẫn vợ chồng. Nay bà T xin ly hôn, ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn.

Về con: ông xác nhận hai con chung đã đủ 18 tuổi, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung: ông Tư công N những tài sản mà bà T nêu ra là tài sản chung vợ chồng và đồng ý chia theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, ông T1 yêu cầu giải quyết về tài sản và công nợ chung của vợ chồng bao gồm: Số tiền 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng) là tiền bà Lê Thị T lấy nợ từ bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn H, xã H, tỉnh Thanh Hóa; Số tiền 36.000.000đ (ba mươi sáu triệu đồng) là tiền bà Lê Thị T lấy nợ từ bà Trần Thị H, địa chỉ: Thôn H, xã H, tỉnh Thanh Hóa; Số tiền 230.000.000₫ (Hai trăm ba mươi triệu đồng) là tiền bà Lê Thị T nhận hỗ trợ từ ông Nguyễn Văn H1 - bà Lê Thị H2 (bố mẹ của Nguyễn Văn T5 – người gây thương tích cho con trai ông T, bà T1 – anh Lê Tuấn T3); Số tiền 170.000.000đ còn lại sau bán nhà hiện do bà Lê Thị T quản lý; Số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) hiện ông T1 và bà T còn nợ khi mua cỗ ván ngựa của bà Lê Thị T6; sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn H, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Tổng giá trị tài sản và công nợ mà ông Lê Khoa T1 yêu cầu Toà án giải quyết là 556.000.000đ (Năm trăm năm mươi sáu triệu đồng).

Ngày 05/11/2025, Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ông T1 xin rút phần yêu cầu chia tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng, không yêu cầu Toà án giải quyết và thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Tuy nhiên trong thời gian 07 ngày kể từ ngày hòa giải thành, hai bên không thống nhất được nên yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án.

Ngày 12/12/2025, tại phiên họp về hòa giải lần 2, ông T1 xin rút yêu cầu về chia tài sản của vợ chồng theo đơn ngày 16/9/2025. Ngày 22/12/2025, ông T1 xin rút yêu cầu về chia công nợ chung vợ chồng.

Tại biên bản thẩm định ngày 21/10/2025 thể hiện: Các tài sản gồm: 01 xe ô tô Mazda CX5, biển kiểm soát 30A-864.11 hiện anh T1 là người trực tiếp quản lý và sử dụng, đã chạy 133.490km; 01 cỗ ngựa dày 16cm, dài 3,50m, rộng 103cm, và dày 16cm, dài 3,50m, rộng 93cm, cao 40cm (cả đế); 01 bộ sập dài 199cm, rộng 155cm, bệ cao 50cm; 01 tủ chè dài 170cm, cao cả bộ 66cm; 01 tủ ly (kệ tivi) rộng 2,3m: cao lần lượt là 81cm, 110cm, 110cm; 01 tủ rượu rộng 168cm, cao 177cm,gồm 04 cánh cửa kính; 01 tủ rượu cao 200cm, rộng 11cm + 50cm+ 11cm; 01 tủ lạnh LC mã sản phẩm GR_B247JS, công suất 170W, hiệu suất năng lượng 1,62, các đương sự xác định mua đã lâu và không nhớ chính xác thời điểm mua.

Tại biên bản định giá ngày 21/20/2025 thể hiện: Các tài sản gồm có: xe ô tô Mazda CX5, biển kiểm soát 30A-86411 trị giá 400.000.000₫ (bốn trăm triệu đồng); 01 cỗ ngựa trị giá 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng); 01 bộ sập trị giá 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng); 01 tủ chè trị giá 9.000.000đ (chín triệu đồng); 01 tủ ly (kệ ti vi) trị giá 10.000.000đ (mười triệu đồng); 01 tủ rượu trị giá 10.000.000đ (mười triệu đồng); 01 tủ rượu trị giá 5.000.000đ (năm triệu đồng); 01 tủ lạnh trị giá 5.000.000đ (năm triệu đồng). Tổng giá trị tài sản là 504.000.000₫ (năm trăm lẻ tư triệu đồng). Các đương sự có ý kiến về giá trị tủ chè và đề nghị Hội đồng định giá xác định là 5.000.000đ (năm triệu đồng). Hội đồng định giá thống nhất với đề nghị của các đương sự về giá trị của tủ chè là 5.000.000đ (năm triệu đồng). Hội đồng định giá thống nhất tổng giá trị tài sản trên là 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng).

Tại phiên tòa: Các đương sự vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng, đầy đủ các quy định về quyền, nghĩa vụ đương sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 144, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn theo quy định pháp luật.

Về con chung: Bà Lê Thị Tvà ông Lê Khoa T1 có 02 con chung là Lê Anh T2, sinh ngày 14/7/1996 và Lê Tuấn T3, sinh ngày 30/10/2005. Hiện nay, các con đều đã đủ 18 tuổi, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết đối với phần con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã rút yêu cầu đối với phần tài sản và công nợ chung; đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với các phần yêu cầu đã rút theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà Lê Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật; đồng thời hoàn trả tiền tạm ứng án phí đối với các phần yêu cầu đã rút và bị đình chỉ giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết

Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Lê Khoa T1 có nơi cư trú tại xã H, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 – tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2, khoản 3 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15.

[1.2] Về việc có mặt, vắng mặt của các đương sự

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị T; bị đơn ông Lê Khoa T1 vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[1.3] Về việc rút yêu cầu khởi kiện và đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu đã rút

Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã rút toàn bộ yêu cầu về chia tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng. Việc rút yêu cầu là tự nguyện, phù hợp với quyền tự định đoạt của đương sự theo Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 và điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu chia tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng.

[1.4] Về phạm vi giải quyết của Tòa án tại phiên tòa

Tại thời điểm xét xử, nguyên đơn bà Lê Thị T chỉ còn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; các đương sự không yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản chung và công nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ xem xét, giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự, đúng với quy định tại Điều 5 và Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung

[2.1] Về quan hệ hôn nhân

Bà Lê Thị T và ông Lê Khoa T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị T kiên quyết yêu cầu được ly hôn; ông Lê Khoa T1 trong các bản tự khai và biên bản hòa giải thể hiện ý kiến đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, ông Lê Khoa T1 vắng mặt, nên không thể xác định được sự tự nguyện, thống nhất ý chí của các bên tại thời điểm xét xử để làm căn cứ công nhận thuận tình ly hôn theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Lê Thị T và ông Lê Khoa T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; việc bà Lê Thị T yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Lê Khoa T1.

[2.2] Về con chung

Bà Lê Thị Tvà ông Lê Khoa T1 có 02 con chung là Lê Anh T2, sinh ngày 14/7/1996 và Lê Tuấn T3, sinh ngày 30/10/2005. Các con đều đã đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Do đó, căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết đối với phần con chung.

[2.3] Về tài sản chung và công nợ chung

Do các đương sự đã rút toàn bộ yêu cầu về chia tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết đối với phần này, phù hợp với khoản 2 Điều 244 và điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về án phí

Bà Lê Thị T là người khởi kiện vụ án ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Đối với phần tài sản chung và công nợ chung, do các đương sự đã rút toàn bộ yêu cầu nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần này theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa là phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15;khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 3 Điều 218, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng do các đương sự đã rút yêu cầu.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T: Cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Lê Khoa T1.
  3. Về con chung: Bà Lê Thị T và ông Lê Khoa T1 có 02 con chung là: Lê Anh T2, sinh ngày 14/7/1996; Lê Tuấn T3, sinh ngày 30/10/2005.

    Các con chung đều đã đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

  4. Về án phí:
    1. Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ngày 04/8/2025, số 0001797, ký hiệu BLTU/25 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa; bà T đã nộp đủ án phí. Hoàn trả cho bà Lê Thị T số tiền 10.800.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp đối với yêu cầu chia tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng mà bà đã rút và đã bị đình chỉ giải quyết theo biên lai nêu trên.
    2. Hoàn trả cho ông Lê Khoa T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp đối với yêu cầu chia tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng mà ông đã rút và đã bị đình chỉ giải quyết theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ngày 26/9/2025, số 0000834, ký hiệu BLTU/25E của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
  5. Về quyền kháng cáo

    Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  6. Về thi hành án

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND khu vực 4 - Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỎI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Bảo Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TỈNH THANH HOÁ về ly hôn

  • Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T và Lê Trương T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger