|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2026/DS-PT Ngày: 23 - 01 - 2026 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hạnh
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Nhân
Ông Phạm Tiến Hiệp
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Khánh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Đào Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 08 và ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 735/2025/TLPT - DS ngày 16 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 694/2025/QĐ-PT ngày 22/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị R, sinh năm 1953; Địa chỉ cư trú: khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Trần Thị S, sinh năm 1953; Địa chỉ cư trú: tổ D, khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Công H, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: tổ D, khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- Ông Trần Công T1, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: tổ D, khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai. ((vắng mặt và đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Trần Thị Mai H1, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: tổ D, khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt và đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bà Trần Thị Sơn Đ, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: tổ D, khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- Ông Trần Thái T2, sinh năm 1953; địa chỉ cư trú: tổ D, khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt và đơn xin xét xử vắng mặt)
- Ông Trần Văn Q, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: tổ D, khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt và đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Trần Thị Kim A, sinh năm 1980; địa chỉ cư trú: tổ D, khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt và đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ông Trần Văn D, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: tổ D, khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt và đơn xin xét xử vắng mặt)
- Ông Trần Văn T3, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: tổ D, khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt và đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Trần Ngọc G, sinh năm: 1989; địa chỉ cư trú: tổ D, khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ trụ sở: khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quang P, sinh năm 1987 - cán bộ phòng Kinh tế hạ tầng và đô thị phường C, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
Do có kháng cáo của bị đơn - bà Trần Thị S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị R trình bày:
Bà Lê Thị R là chủ sử dụng của thửa đất số 42, tờ bản đồ số 21, diện tích 8.867,7m², tọa lạc tại khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 639035, số vào sổ H 04306 do UBND huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước cấp ngày 15/01/2009 mang tên hộ ông Trần Thái T2, bà Lê Thị R. Liền kề cạnh phía đông của thửa đất trên, gia đình bà R vẫn còn phần diện tích đất khai phá là khoảng 200m²mà gia đình bà R quản lý, sử dụng từ năm 1975 đến nay, khi nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã không đưa phần diện tích này vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà R. Liền kề cạnh phía đông thửa đất của bà R là thửa đất số 8, tờ bản đồ số 44 của bà Trần Thị S. Tháng 3 năm 2022, bà S cho người rào ranh đất và đã cho rào lấn vào phần diện tích khoảng 200m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà R, Phần diện tích đất này có phần mặt tiền đường quốc lộ 14 khoảng 0,6m, phần mặt hậu khoảng 1,5m, phần giữa đất khoảng 02m; lấn từ đầu đất đến cuối đất dài khoảng 100mThửa đất có nguồn gốc khai phá từ năm 1975. Trước đây ranh đất giữa hai nhà là mương nước, đầu đất giáp Quốc lộ A có hàng cây rừng. Khi làm hàng rào, bà S đã chặt của bà R 03 cây trâm khoảng 50 năm tuổi, 01 cây cám khoảng 50 năm tuổi, 02 bụi trúc và 03 bụi tre bình tông, tổng trị giá 45.000.000 đồng.
Bà R yêu cầu gia đình bà S dỡ bỏ hàng rào lưới B40 trả lại diện tích lấn chiếm theo kết quả đo đạc là: 174,2m² cho hộ bà R theo đúng hiện trạng sử dụng đất của bà R. Đồng thời bà R yêu cầu bà Trần Thị S phải bồi thường giá trị 03 cây trâm khoảng 50 năm tuổi, 01 cây cám khoảng 50 năm tuổi, 02 bụi trúc và 03 bụi tre bình tông, tổng trị giá 45.000.000 đồng.
Bị đơn bà Trần Thị S trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày 14/4/2025 trình bày:
Hộ gia đình bà S có quản lý, sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 08, tờ bản đồ 44, có tổng diện tích 9.848,9m², tọa lạc tại khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 639174, số vào sổ H-04180 do UBND huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước cấp ngày 15/01/2009 mang tên hộ bà Trần Thị S. Nguồn gốc thửa đất do hộ gia đình bà S khai phá từ năm 1975. Từ khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay thì gia đình bà S cũng không kiểm tra lại diện tích, cũng không biết diện đất được cấp bao nhiêu. Về ranh giới giáp với thửa đất của bà R, bà S xác định về phía trên của thửa đất tiếp giáp thì thể hiện ranh giới là mương nước nhỏ do bà R đào năm 2009, bà S biết nhưng không ý kiến.
Bà S không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà R và xác định không lấn đất của bà R, phần diện tích đất tranh chấp 174,2 m², tọa lạc khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước là phần đất của gia đình bà S sử dụng từ khi khai phá, canh tác từ những năm 1975. Năm 2022 bà S làm hàng rào thì có đo đạc, cắm mốc và có chứng kiến của ban ấp, địa chính phường H. Ông Trần Thái T2 cùng các con cháu chặt cây cho bà S làm hàng rào. Sau khi rào đất bằng cột xi măng và lưới b40 xong thì bà R khởi kiện cho rằng tôi lấn đất bà R là không có cơ sở. Đối với yêu cầu của bà R về việc bồi thường giá trị 03 cây trâm khoảng 50 năm tuổi, 01 cây cám khoảng 50 năm tuổi, 02 bụi trúc và 03 bụi tre bình tông, bà S xác định không chặt cây của bà R.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thái T2 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Ông Trần Thái T2 là chồng bà Lê Thị R là thành viên trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đối với thửa đất số 42, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước giáp ranh với thửa đất của bà Trần Thị S. Ông T2 thống nhất với yêu cầu và trình bày của bà Lê Thị R trong vụ án, ông T2 đồng ý để bà R toàn quyền quyết định. Ông T2 có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T3 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Anh T3 là con của bà Lê Thị R và ông Trần Thái T2, là thành viên trong hộ gia đình bà R, có chung quyền sử dụng đối với thửa đất số 42, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. anh T3 thống nhất với ý kiến và trình bày của bà R và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà R. Ngoài ra không có ý kiến tranh chấp gì khác. anh T3 có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Q trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Anh Q là con của bà Lê Thị R và ông Trần Thái T2, là thành viên trong hộ gia đình bà R, có chung quyền sử dụng đối với thửa đất số 42, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Anh thống nhất với ý kiến và trình bày của bà R và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà R. Ngoài ra không có ý kiến tranh chấp gì khác. Anh Q có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn D trong quá trình giải quyết vụ án có ý kiến như sau:
Anh Dũng là con của bà Lê Thị R và ông Trần Thái T2, là thành viên trong hộ gia đình bà R. anh D thống nhất với ý kiến và trình bày của bà R và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà R. Ngoài ra không có ý kiến tranh chấp gì khác. anh D có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Kim A trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Chị Kim A là con của bà Lê Thị R và ông Trần Thái T2, là thành viên trong hộ gia đình bà R, có chung quyền sử dụng đối với thửa đất số 42, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Chị Kim A thống nhất với ý kiến và trình bày của bà R và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà R. Ngoài ra không có ý kiến tranh chấp gì khác. Chị Kim A có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Ngọc G trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa trình bày:
Chị G là con của bà Lê Thị R và ông Trần Thái T2, là thành viên trong hộ gia đình bà R, có chung quyền sử dụng đối với thửa đất số 42, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Chị G thống nhất với ý kiến và trình bày của bà R và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà R. Ngoài ra không có ý kiến tranh chấp gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Công H, chị Trần Thị Mai H1 và anh Trần Công T1 trong quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị R và có giấy uỷ quyền cho chị Trần Thị Sơn Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Sơn Đ tại phiên toà ngày 14/4/2025 trình bày:
Chị Đ là con bà Trần Thị S, là thành viên trong hộ gia đình à Trần Thị S, có quyền quản lý, sử dụng tài sản chung của hộ gia đình là thửa đất số 08, tờ bản đồ 44, có tổng diện tích 9.848,9m², tọa lạc tại khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 639174, số vào sổ H-04180 do UBND huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước cấp ngày 15/01/2009 mang tên hộ bà Trần Thị S. Chị Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà R, thống nhất như trình bày của bà S.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị R với bị đơn bà Trần Thị S về việc buộc bà Trần Thị S và các thành viên trong hộ gia đình bà S gồm: anh Trần Công H, anh Trần Công T1, chị Trần Thị Mai H1 và chị Trần Thị Sơn Đ phải dỡ bỏ hàng rào cột xi măng, lưới B40 trả lại cho bà Lê Thị R diện tích đất 174,2 m² thuộc thửa đất số 8, tờ bản đồ số 44, đất tọa lạc tại: khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai), đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 639174, số vào sổ H-04180 do UBND huyện C, tỉnh Bình Phước cấp ngày 15/01/2009 cấp cho hộ bà Trần Thị S. (Có sơ đồ đo đạc ngày 10/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã C kèm theo).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị R đối với bị đơn bà Trần Thị S về việc bồi thường thiệt hại cây 03 cây trâm khoảng 50 năm tuổi, 01 cây cám 50 năm tuổi, 02 bụi trúc, 03 bụi tre bình tông, tổng trị giá 45.000.000 đồng.
- Chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn bà Trần Thị S phải trả lại cho bà Lê Thị R chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 3.000.000 đồng và chi phí đo đạc là 10.477.000 đồng, tổng cộng là 13.477.000 đồng.
Các đương sự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định về pháp luật đất đai.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 08/11/2025, bị đơn bà Trần Thị S nộp đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai đối với nội dung buộc bà Trần Thị S và các thành viên trong hộ gia đình bà S gồm: anh Trần Công H, anh Trần Công T1, chị Trần Thị Mai H1 và chị Trần Thị Sơn Đ phải dỡ bỏ hàng rào cột xi măng, lưới B40 trả lại cho bà Lê Thị R diện tích đất 174,2 m² thuộc thửa đất số 8, tờ bản đồ số 44, đất tọa lạc tại: khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai), đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 639174, số vào sổ H-04180 do UBND huyện C, tỉnh Bình Phước cấp ngày 15/01/2009 cấp cho hộ bà Trần Thị S và đối với Chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn bà Trần Thị S phải trả lại cho bà Lê Thị R chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 3.000.000 đồng và chi phí đo đạc là 10.477.000 đồng, tổng cộng là 13.477.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo về việc yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giải quyết như sau:
- Hủy một phần bản án sơ thẩm đối với nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị R với bị đơn bà Trần Thị S về việc buộc bà Trần Thị S và các thành viên trong hộ gia đình bà S gồm: anh Trần Công H, anh Trần Công T1, chị Trần Thị Mai H1 và chị Trần Thị Sơn Đ phải dỡ bỏ hàng rào cột xi măng, lưới B40 trả lại cho bà Lê Thị R diện tích đất 174,2 m² thuộc thửa đất số 8, tờ bản đồ số 44, đất tọa lạc tại: khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai), đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 639174, số vào sổ H-04180 do UBND huyện C, tỉnh Bình Phước cấp ngày 15/01/2009 cấp cho hộ bà Trần Thị S. (Có sơ đồ đo đạc ngày 10/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã C kèm theo).
- Xem xét lại trách nhiệm đối với chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ.
Các đương sự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định về pháp luật đất đai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật:
Kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Với những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn sửa bản án sơ thẩm số 121/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn Trần Thị S làm trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên cần xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà Trần Thị S, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Nguồn gốc thửa đất số số 69, tờ bản đồ số 21 (tách ra từ thửa đất số 42, tờ bản đồ số 21) toạ lạc tại khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai) cấp hộ ông Trần Thái T2 và bà Lê Thị R. Trên cơ sở kết quả đo đạc bản đồ địa chính chính quy thị trấn C năm 2008, hộ ông Trần Thái T2 có đơn xin cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 42, tờ bản đồ số 21, diện tích 8.867,7m² (Đất ở 300m² và đất trồng cây lâu năm 8.567,7m²). Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không tranh chấp, phù hợp với quy hoạch, đất có nguồn gốc tự khai phá năm 1975, thời điểm sử dụng đất năm 1975; Việc UBND huyện cấp GCNQSDĐ số AO639035, vào sổ cấp giấy số H-04306, ngày 15/01/2009 cho hộ ông Trần Thái T2 và bà Lê Thị R, là đúng trình tự, thủ tục. Từ khi được cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng đất đến nay gia đình bà R cũng không có khiếu nại gì.
Còn nguồn gốc thửa đất số 8, tờ bản đồ số 44, thuộc khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là phường C, tỉnh Đồng Nai) cấp cho hộ bà Trần Thị S thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất không tranh chấp, phù hợp với quy hoạch, đất có nguồn gốc tự khai phá năm 1975, thời diểm sử dụng đất năm 1975; UBND huyện cấp GCNQSDĐ số AO639174, vào sổ cấp giấy số H-04180, ngày 15/01/2009 cho hộ bà Trần Thị S, là đúng trình tự, thủ tục.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nguyên đơn và bị đơn đều không có cắm mốc ranh cũng như không xây dựng tường rào.
Nguyên đơn bà R xác định quá trình sử dụng đất thì không có cột mốc hay xây tường rào như nêu trên, mà nguyên đơn xác định ranh giới giữa 2 thửa đất, phía đầu đất (giáp đường) có cây trâm làm ranh giới, cây trâm do bà R trồng, phía sau là mương nước do bà R, ông Thái T2 đào.
Bị đơn bà S xác định, cây T4 là cây rừng, không phải là cây của bà S trồng, bà S chỉ trồng các bụi trúc dọc theo ranh, còn phía sau có mương nước cạn là do bà R và ông Thái T2 xin đào năm 2009 trên đất của bà S và được bà S đồng ý.
HĐXX xét thấy, theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 16/01/2026 (có hình ảnh và video kèm theo hồ sơ) tại cấp phúc thẩm, các bên không sử dụng đúng với ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Phía đất giáp đường N có 01 gốc cây Trâm, phần giữa ranh giới đất tranh chấp đến hết phần đất giáp ranh giữa bà R và bà ranh đất là mương nước cạn dài 32m theo dòng nước tự nhiên. Dọc theo ranh thực tế của nguyên đơn bà R có trồng 12 bụi trúc, 02 bụi tre, 01 cây trâm, 03 cây lý, 03 cây cám, 03 cây dừa (02 cây dừa lớn, 01 cây dừa cụt ngọn khoảng 5-6 năm tuổi) Sát ranh hàng trúc và các cây trồng còn lại khác của nguyên đơn bà R là hàng lưới B40, trụ cột bê tông của bị đơn bà S.
Như vậy, cần công nhận ranh thực tế do bà R và bà S đã xác lập và sử dụng từ trước cho đến nay theo thực trạng thực tế như bà S chỉ là phù hợp nên cần được chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà R, công nhận phần diện tích 44,3m² theo ranh bà S chỉ thuộc thửa đất số 8, tờ bản đồ số 44, đất tọa lạc tại: khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai), đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 639174, số vào sổ H-04180 do UBND huyện C, tỉnh Bình Phước cấp ngày 15/01/2009 cấp cho hộ bà Trần Thị S. (Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 10/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã C kèm theo). Việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa phù hợp cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà S. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà R.
[2.2] Chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: Chi phí đo đạc giải quyết vụ án là 10.477.000 đồng, chi phí định giá, xem xét thẩm định tại chỗ cấp sơ thẩm là 3.000.000 đồng. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cấp phúc thẩm là 4.000.000 đồng.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần và yêu cầu kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một phần nên chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản cả nguyên đơn và bị đơn đều phải chịu và mỗi bên chịu ½ theo quy định.
Do bị đơn bà S tự nguyện chịu 4.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại cấp phúc thẩm nên chi phí định giá, xem xét thẩm định tại cấp sơ thẩm là 3.000.000 đồng nguyên đơn bà R chịu và đã thanh toán xong.
Đối với chi phí đo đạc giải quyết vụ án là 10.477.000 đồng. Nguyên đơn bà R và bị đơn bà S mỗi bên phải chịu 5.238.500 đồng. Do nguyên đơn bà R đã thanh toán cho Chi nhánh Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thị xã C chi phí đo đạc là 10.477.000 đồng nên bị đơn bà S phải trả lại cho nguyên đơn bà R số tiền là 5.238.500 đồng.
[3] Án phí dân sự:
Án phí sơ thẩm: Do nguyên đơn bà R được chấp nhận một phần nên cả nguyên đơn bà R và bị đơn bà S đều phải chịu, tuy nhiên được miễn theo quy định.
Án phí phúc thẩm: Bị đơn bà S không phải chịu.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị S;
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai.
- Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 92, 147, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng các điều 164, 166; 504; 505; 512 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị R với bị đơn bà Trần Thị S về việc: công nhận phần diện tích 44,3m² theo ranh bà S chỉ thuộc thửa đất số 8, tờ bản đồ số 44, đất tọa lạc tại: khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là khu phố T, phường C, tỉnh Đồng Nai), đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 639174, số vào sổ H-04180 do UBND huyện C, tỉnh Bình Phước cấp ngày 15/01/2009 cấp cho hộ bà Trần Thị S. (kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 10/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã C).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị R đối với bị đơn bà Trần Thị S về việc bồi thường thiệt hại cây 03 cây trâm khoảng 50 năm tuổi, 01 cây cám 50 năm tuổi, 02 bụi trúc, 03 bụi tre bình tông, tổng trị giá 45.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị R, bị đơn bà Trần Thị S được miễn án phí theo quy định.
- Chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn bà Trần Thị S chịu 4.000.000 đồng. Nguyên đơn bà Lê Thị R chịu 3.000.000 đồng, các đương sự đã thanh toán xong.
Các đương sự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định về pháp luật đất đai.
Chi phí đo đạc là 10.477.000 đồng, nguyên đơn bà Lê Thị R và bị đơn Trần Thị S mỗi người phải chịu 5.238.500 đồng. Do nguyên đơn đã thanh toán cho Chi nhánh Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thị xã C nên bị đơn bà S phải trả lại cho nguyên đơn bà R số tiền là 5.238.500 đồng.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Hồng Hạnh |
Bản án số 66/2026/DS-PT ngày 23/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 66/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
