|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2025/HS-ST Ngày 24-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Nhẫn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Yến - Giáo viên nghỉ hưu
- Bà Đỗ Thị Hoài Mơ - Chủ tịch Hội bảo vệ quyền trẻ em xã Lục Nam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Bùi Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025; đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lương Quang Đ, sinh ngày 10/11/2008 tại xã B, tỉnh Bắc Ninh; tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn B, xã B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Lương Văn K, sinh năm 1979 và bà Tạ Thị C, sinh 1984; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lương Quang Đ: Ông Lương Văn K, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn B, xã B, tỉnh Bắc Ninh (Là bố đẻ - Có mặt).
- Đại diện nhà trường của bị cáo Lương Quang Đ: Ông Võ Thành C1 - Giám đốc trung tâm G (Vắng mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Lương Quang Đ: Bà Thân Thi Thúy V - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T6 (Có mặt).
2. Họ và tên: Lương Minh H, sinh ngày 18/10/2008 tại xã B, tỉnh Bắc Ninh; tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn B, xã B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Lương Văn T, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1983; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lương Minh H: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn B, xã B, tỉnh Bắc Ninh (Là mẹ đẻ - Có mặt).
- Đại diện nhà trường của bị cáo Lương Minh H: Ông Võ Thành C1 - Giám đốc trung tâm G (Vắng mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn H1: Bà Thân Thi Thúy V - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T6 (Có mặt).
3. Họ và tên: Nguyễn Anh T1, sinh ngày 24/01/2009 tại xã K, tỉnh Bắc Ninh; tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn K, xã K, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Anh T1: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn V, xã L, tỉnh Bắc Ninh (Là mẹ đẻ - Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Anh T1: Ông Hoàng Trọng N1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T6 (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
4. Họ và tên: Dương Văn N2, sinh ngày 24/11/2008 tại xã B, tỉnh Bắc Ninh; tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn B, xã B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Dương Văn T2, sinh năm 1983 và bà Trương Thị H2, sinh năm 1989; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Văn N2: Ông Dương Văn T2, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn B, xã B, tỉnh Bắc Ninh (Là bố đẻ - Vắng mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Dương Văn N2: Ông Hoàng Trọng N1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T6 (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án)
- Đại diện đoàn thể địa phương của bị cáo Lương Quang Đ, Lương Minh H và Dương Văn N2: Bà Nguyễn Thị H3, chức vụ: Bí thư Đoàn thanh niên xã B, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).
- Đại diện đoàn thể địa phương của bị cáo Nguyễn Anh T1: Ông Nguyễn Văn T3, chức vụ: Bí thư Đoàn thanh niên xã K, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).
* Bị hại: Anh Nguyễn Huy T4, sinh ngày sinh ngày 27/10/2009; địa chỉ: Thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1980; địa chỉ: C, xã L, tỉnh Bắc Ninh (Là bố đẻ - Vắng mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Văn T2, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn B, xã B, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn V, xã L, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
* Người làm chứng: Anh Đinh Xuân M1, sinh năm 2008; địa chỉ: Thôn H, xã L, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 25/7/2025, Lương Quang Đ, sinh ngày 10/11/2008, trú tại thôn B, xã B, tỉnh Bắc Ninh; Lương Minh H, sinh ngày 18/10/2008, trú tại thôn B, xã B, tỉnh Bắc Ninh; Dương Văn N2, sinh ngày 24/11/2008 ở cùng thôn với H và Nguyễn Anh T1, sinh ngày 24/01/2009, trú tại thôn K, xã K, tỉnh Bắc Ninh đến nhận lương tại văn phòng đại diện của tập đoàn G1, chi nhánh L ở Khu đô thị P, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Lúc này, anh Nguyễn Huy T4, sinh ngày 27/10/2009, trú tại thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh cũng đến lấy lương. Do Đ và T4 làm cùng công ty và có mâu thuẫn từ trước với nhau nên khi nhìn thấy T4 thì Đ ra hỏi “Lúc trước mày đánh ai đấy” rồi dùng tay đẩy vào ngực T4, đánh vào đầu T4; T4 cầm chìa khoá xe mô tô đánh lại về phía Đ, Đ lấy tay đấm vào vùng đầu T4. Thấy vậy, H và T1 cầm mũ bảo hiểm ra đánh T4, H dùng tay phải cầm chiếc mũ bảo hiểm màu hồng của mình đánh nhiều cái vào đầu T4 làm T4 bị ngã, khi T4 ngã ra đất T1 cầm mũ bảo hiểm màu đen (lấy của N2) đánh vào người T4. T4 đứng lên nói “chúng mày chờ, tao về gọi người” rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12Z1-044.14 đi về. Thấy vậy, Đ nói với T1, H và N2 “đi lên xe đuổi nó” thì cả nhóm đồng ý đuổi theo để đánh T4. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98E1-597.02 (xe của T1) đèo T1 ngồi sau cầm mũ bảo hiểm màu đen, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1-237.55 (xe của N2) đèo N2 ngồi sau cầm mũ bảo hiểm màu hồng, cùng đuổi theo để đánh anh T4. Đuổi theo được khoảng 02km, đến khu vực ngã tư A trên tỉnh lộ 295 thuộc thôn A, xã L, tỉnh Bắc Ninh thì cả nhóm nhìn thấy T4. Xe của Đ vượt lên đi song song với xe anh T4, Đ dùng tay phải đấm vào bắp tay trái anh T4, T1 ngồi sau cầm mũ bảo hiểm màu đen đánh vào lưng anh T4, rồi Đ điều khiển xe vượt lên trước xe T4; lúc này xe của H chở N2 đi phía sau cũng vượt lên, khi ở vị trí song song với xe T4 thì N2 cầm mũ bảo hiểm màu hồng đánh về phía anh T4 nhưng không trúng, ngay lúc này H nhổm lên dùng chân phải đạp vào sườn trái anh T4 làm anh T4 ngã ra đường bị thương gãy chân phải, xe mô tô của anh T4 đổ ra đường bị hư hỏng. Thấy vậy các bị cáo điều khiển xe mô tô bỏ đi, anh T4 được người dân đưa đi cấp cứu tại Phòng khám Đ1, xã L, sau đó được chuyển điều trị tại Bệnh viện Đ2 số 1.
Ngay sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, hồi 10 giờ 30 phút cùng ngày 25/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám nghiệm hiện trường tại nơi anh T4 bị ngã. Quá trình khám nghiệm, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe mô tô 12Z1-044.14 và 01 mũ bảo hiểm màu đen - trắng là xe và mũ của anh T4.
Ngày 08/9/2025, anh T4 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện Đ2, xác nhận: Anh T4 đến khám lúc 12 giờ 27 phút ngày 25/7/2025 điều trị ra viện ngày 28/7/2025. Khám lúc vào: Gãy hở 1/3 xương chày phải - chấn thương phần mềm. X- Q: Gãy 1/3 trên xương chày cẳng chân phải, trục xương không di lệnh.
Ngày 07/8/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 11582/QĐ-CSHS, trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh T6 giám định tỷ lệ tổn thương đối với anh T4.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 86/KLTTCT-TTPY ngày 15/8/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh T6, kết luận:
(1) Dấu hiệu chính qua giám định: Thương tích mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải có vết sẹo nông kích thước nhỏ: 1%; thương tích gãy 1/3 trên xương chày cẳng chân phải + Phim X - Quang hiện tại gãy cũ 1/3 trên xương chày phải không di lệch, đã can xương, trục thẳng: 12%.
(2) Kết luận tỷ lệ tổn thương: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Huy T4 tại thời điểm giám định là: 13%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Tại Kết luận định giá tài sản số 106/KL-HĐĐGTS ngày 25/8/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh kết luận: Giá trị phần hư hỏng phải sửa chữa, thay thế của xe mô tô 12Z1-044.14 là 899.999 đồng.
Về vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô 12Z1-044.14 và 01 mũ bảo hiểm màu đen - trắng thu giữ khi khám nghiệm hiện trường là của anh T4. Ngày 15/10/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho anh T4.
Ngày 25/7/2025, N2 giao nộp 01 xe mô tô biển kiểm soát 98F1-237.55 là phương tiện H chở N2 đuổi đánh anh T4, chiếc xe này là của anh Dương Văn T2, sinh năm 1984 là bố đẻ N2, anh T2 không biết việc N2 dùng xe làm phương tiện phạm tội và 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen, loại mũ nửa đầu, kích thước (26x14) cm (là mũ của N2 mà T1 dùng đánh anh T4 ở khu đô thị P và lúc đuổi); T1 giao nộp 01 xe mô tô biển kiểm soát 98E1-597.02 là phương tiện Đ chở T1 đuổi đánh anh T4, chiếc xe này là của chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1979 là mẹ đẻ T1, chị N không biết việc T1 dùng xe làm phương tiện phạm tội. Ngày 27/10/2025, H giao nộp 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu hồng, loại mũ nửa đầu, thân mũ bị dập vỡ, kích thước (25x14)cm (là mũ của H, H dùng đánh anh T4 tại khu đô thị P sau đó đưa cho N2 cầm dùng đuổi đánh anh T4). Ngày 25/7/2025, Đ giao nộp 01 điện thoại di động SamSung màu đen (là tài sản của Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội). Các tài sản, vật chứng trên được Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 20/10/2025, các bị cáo cùng với gia đình đã tự nguyện bồi thường cho anh T4 số tiền 20.000.000 đồng (mỗi bị cáo 5.000.000 đồng); anh T4 và người đại diện không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại cơ quan điều tra Lương Quang Đ, Lương Minh H, Nguyễn Anh T1 và Dương Văn N2 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản Cáo trạng số 22/CT-VKS-KV4 ngày 26/11/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh truy tố bị cáo Lương Quang Đ, Lương Minh H, Nguyễn Anh T1 và Dương Văn N2 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh, điều, khoản trên là đúng, không oan. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất hối hận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đại diện hợp pháp của các bị cáo nhất trí với lời khai của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N trình bày: Về chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, biển kiểm soát 98E1-597.02 mà bị cáo T1 giao nộp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà, bà không biết việc T1 dùng xe làm phương tiện phạm tội, bị cáo T1 tự ý lấy xe đi không hỏi bà nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bà xin lại chiếc xe ô tô trên để dùng làm phương tiện đi lại.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và người có quyền lời, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án vẫn giữ nguyên quyết định như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 91; Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024:
- Xử phạt bị cáo Lương Quang Đ từ 17 tháng tù đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 34 tháng đến 36 tháng về tội “Cố ý gây thương tích".
- Xử phạt bị cáo Lương Minh H từ 17 tháng tù đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 34 tháng đến 36 tháng về tội “Cố ý gây thương tích".
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T1 từ 16 tháng tù đến 17 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 32 tháng đến 34 tháng về tội “Cố ý gây thương tích".
- Xử phạt Dương Văn N2 từ 15 tháng tù đến 16 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 32 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại anh Dương Văn T2 01 xe mô tô biển kiểm soát 98F1-237.55; trả lại chị Nguyễn Thị N 01 xe mô tô biển kiểm soát 98E1-597.02.
- Trả lại bị cáo Lương Quang Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 352845141232159/01; IMEI 2: 353051561232154/01 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu đen, cũ đã qua sử dụng và 01 mũ bảo hiểm màu hồng (trên có hoạ tiết màu xám, trắng), bị vỡ khuyết, dập vỡ nhiều chỗ.
* Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Các bị cáo nhất trí với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh cũng như hình phạt.
- Bà Nguyễn Thị Thúy V1 - Người bào chữa cho bị cáo Lương Quang Đ và bị cáo Lương Minh H trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Đ, bị cáo H, căn cứ vào hình phạt đối với người chưa thành niên để xử các bị cáo từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
- Ông Hoàng Trọng N1 - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Anh T1 và bị cáo Dương Văn N2 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo T1, bị cáo N2 để xét xử bị cáo T1 từ 09 tháng tù đến 11 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo; xét xử bị cáo N2 từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi.
- Người đại diện hợp pháp của các bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Văn N2 là ông Dương Văn T2 do bị ốm đây là lý do bất khả kháng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt ông Dương Văn T2. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đại diện nhà trường của bị cáo Đ, bị cáo H, đại diện đoàn thể địa phương của bị cáo Đ, bị cáo H, bị cáo N2 và bị cáo T1, người làm chứng vắng mặt nhưng sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ.
[3]. Xét về tội danh:
Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Căn cứ lời khai của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 10 giờ ngày 25/7/2025, tại khu đô thị P, xã L, tỉnh Bắc Ninh, Lương Quang Đ, sinh ngày 10/11/2008, Lương Minh H, sinh ngày 18/10/2008, Dương Văn N2, sinh ngày 24/11/2008 và Nguyễn Anh T1, sinh ngày 24/01/2009 xảy ra xô xát, đánh nhau với anh Nguyễn Huy T4 - sinh ngày 27/10/2009 (15 tuổi, 8 tháng, 28 ngày). Đ dùng chân tay đánh vào người và đầu anh T4, H dùng mũ bảo hiểm bằng nhựa màu hồng kích thước (25x14cm đánh vào đầu anh T4, T1 dùng mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen kích thước (26x14) cm đánh vào người T4. Bị đánh, anh T4 điều khiển xe mô tô BKS 12Z1-044.14 bỏ chạy, Đ nói với mọi người đuổi theo để đánh. Đ điều khiển xe mô tô BKS 98E1 -597.02 đèo T1 ngồi sau, H điều khiển xe mô tô BKS 98F1-237.55 đèo Nha, cùng đuổi theo để đánh anh T4. Đuổi được khoảng 02km, đến khu vực ngã tư A trên tỉnh lộ 295 thuộc thôn A, xã L, tỉnh Bắc Ninh thì xe Đ vượt lên đi song song với xe anh T4, Đ dùng tay phải đấm vào bắp tay trái anh T4, T1 ngồi sau cầm mũ bảo hiểm màu đen đánh vào lưng anh T4, lúc này xe của H chở N2 đi phía sau vượt lên đi song song với xe anh T4, N2 cầm mũ bảo hiểm màu hồng đánh về phía anh T4 nhưng không trúng, H dùng chân phải đạp vào sườn trái anh T4 làm anh T4 ngã ra đường bị thương gãy cẳng chân phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi được quy định tại Bộ luật Hình sự. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 22/CT-VKS-KV4 ngày 26/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh truy tố các bị cáo Lương Quang Đ, Lương Minh H, Nguyễn Anh T1 và Dương Văn N2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm là mũ bảo hiểm để đánh vào đầu bị hại. Các bị cáo điều khiển xe mô tô đuổi theo anh T4 làm cho anh T4 sợ bỏ chạy với tốc độ cao có thể gây tai nạn giao thông, gây thương tích và có thể gây nguy hiểm đến tính mạng cho anh T4. Do vậy, cần xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
[5]. Xét vai trò của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc và phân công vai trò cụ thể nên xác định là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo Đ là người đánh anh T4 trước, sau khi anh T4 bỏ chạy bị cáo Đ khởi xướng, rủ rê các bị cáo đuổi đánh anh T4. Bị cáo H cũng tham gia đánh anh T4 từ đầu và trên đường đuổi theo để tiếp tục đánh anh T4, bị cáo H là người đạp ngã anh T4 là nguyên nhân trực tiếp gây ra thương tích của anh T4 nên bị cáo Đ và bị cáo H có vai trò thứ nhất. Bị cáo T1 tham gia đánh anh T4 ở khu đô thị P, khi đuổi đánh thì tiếp tục dùng mũ bảo hiểm đánh anh T4 nên có vai trò thứ hai. Bị cáo N2 tham gia đuổi đánh anh T4 cùng các bị cáo, có dùng mũ bảo hiểm đánh anh T4 nhưng không đánh trúng anh T4 nên có vai trò thứ ba.
[6]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
- Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đ, H, T1 và N2 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội các bị cáo đã cùng gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; bị cáo Đ có ông ngoại là Tạ Văn B được tặng kỷ niệm chương vì đã có nhiều cống hiến trong công tác, chiến đấu xây dựng lực lượng vũ trang T; bị cáo H đã tự nguyện ủng hộ 500.000 đồng vào quỹ vì người nghèo của xã B nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7]. Các bị cáo khi phạm tội đã trên 16 tuổi, nhưng dưới 18 tuổi. Thời điểm các bị cáo phạm tội thì Luật Tư pháp người chưa thanh niên chưa có hiệu lực. Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 179 của Luật Tư pháp người chưa thanh niên quy định:
“2. Các điều khoản của Luật này quy định về hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, tù có thời hạn, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, án treo, hoãn chấp hành hình phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội quy định tại chương VI của Luật này được áp dụng kể từ ngày Luật này được công bố”.
Nên áp dụng các quy định tại Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thanh niên để xử theo hướng có lợi cho các bị cáo.
[8]. Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
Bản thân các bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó các bị cáo chưa đủ 18 tuổi và được áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 119 và khoản 2 Điều 179 của Luật Tư pháp người chưa thành niên. Căn cứ vào Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp, đảm bảo được tính giáo dục, răn đe các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của P1
[9]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo Đ, H, T1 và N2 đã cùng gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Huy T4 20.000.000 đồng. Anh T4 và người đại diện hợp pháp đã nhận đủ tiền, không yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[10]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu xanh đen bạc, BKS 98F1-237.55 mà Dương Văn N2 giao nộp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Dương Văn T2, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn B, xã B, tỉnh Bắc Ninh (là bố đẻ của N2), bị cáo tự ý mang đi sử dụng, ông T2 không biết; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 98E1-597.02 mà Nguyễn Anh T1 giao nộp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn V, xã K, tỉnh Bắc Ninh (là mẹ đẻ của T1), bị cáo tự ý mang đi sử dụng, bà N không biết nên cần trả lại cho ông T2 và bà N là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 352845141232159/01; IMEI 2: 353051561232154/01 của Lương Quang Đ không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu đen, cũ đã qua sử dụng của bị cáo N2 và 01 mũ bảo hiểm màu hồng (trên có hoạ tiết màu xám, trắng), bị vỡ khuyết, dập vỡ nhiều chỗ của bị cáo H, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. .
[11]. Về các vấn đề khác:
- Đối với 01 xe mô tô BKS 12Z1-044.14, 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 12Z1-044.14 số 002777 và 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu đen, cũ đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Huy T4, ngày 27/10/2025 Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T4 là đúng quy định.
[12]. Về án phí: Các bị cáo Lương Quang Đ, Lương Minh H, Nguyễn Anh T1 và Dương Văn N2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo; bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 119, Điều 124 và khoản 2 Điều 179 của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt: Bị cáo Lương Quang Đ 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 10 (mười) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Lương Minh H 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 10 (mười) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh T1 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 08 (tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Dương Văn N2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Lương Quang Đ, Lương Minh H và Dương Văn N2 cho UBND xã B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Anh T1 cho UBND xã K, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu đen, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu hồng (trên có họa tiết màu xám, trắng) bị vỡ khuyết, dập vỡ nhiều chỗ.
- Trả lại cho ông Dương Văn T2 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 98F1-237.55; Trả lại cho bà Nguyễn Thị N 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 98E1-597.02.
- Trả lại cho bị cáo Lương Quang Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 352845141232159/01; IMEI 2: 353051561232154/01 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an tỉnh B và Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 - Bắc Ninh).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Lương Quang Đ, Lương Minh H, Nguyễn Tuấn A và Dương Văn N2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Nhẫn |
Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 66/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
