|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2025/HS-ST Ngày: 24-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Đức Giang, ông Nguyễn Văn Hậu
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An tham gia phiên toà: bà Hoàng Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An, mở phiên tòa trực tiếp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2025/TLST-HS ngày 21/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2025/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị N (tên gọi khác: không); sinh ngày 14 tháng 11 năm 1982 tại xã Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm B B, xã Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm 1944 và bà Trương Thị T, sinh năm 1960; Chồng: Trần Văn V, sinh năm 1982 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ; tạm giam từ ngày 07/9/2025 đến ngày 13/09/2025 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 13/09/2025 đến nay (có mặt).
- Bị hại: chị Lê Thị L, sinh năm 1997. (có mặt)
Trú tại: thôn H Q, Q, Nghệ An, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 03/9/2025, sau khi tan làm tại công ty D thuộc xóm L, xã H thì Lê Thị N đi ra khu vực trước cổng công ty để mua cơm ăn trưa. Trong lúc đang chờ, Năm nhìn thấy chị Lê Thị L (sinh năm 1997, trú tại thôn H Q, xã Q, tỉnh Nghệ An) cũng đang mua cơm và đeo một chiếc túi xách bên tay trái, không kéo khóa, bên trong có một chiếc điện thoại Iphone màu xanh nên Năm nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại. Năm đi đến gần chỗ chị L đang đứng, lợi dụng lúc chị L không để ý, Lê Thị N thò tay vào lấy trộm chiếc điện thoại đem vào cất dấu trong cốp xe máy của mình rồi tiếp tục vào làm việc, còn chị L sau khi mua cơm xong đi vào công ty thì phát hiện bị mất điện thoại nên quay lại chỗ quán cơm để tìm nhưng không thấy. Đến chiều cùng ngày, sau khi tan làm chị L dùng một chiếc điện thoại khác đăng nhập tài khoản Icloud chung với điện thoại Iphone 14 của mình thì phát hiện điện thoại đang ở gần khu C, một lúc sau thì tắt máy. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Lê Thị N đi làm về lấy chiếc điện thoại lấy trộm được ra kiểm tra thấy nhãn hiệu Iphone 14, bên trong có chứa sim số 0977.708.243, bên ngoài có ốp lưng nhựa màu tím. Năm bật chế độ máy bay rồi tiếp tục cất giấu vào cốp xe. Đến ngày 07/9/2025, Năm đưa chiếc điện thoại trên đến cửa hàng điện thoại Hoàng N1 của anh Hoàng Văn N1 (sinh năm 1993) ở thôn Y, xã Q để mở khóa màn hình, chạy lại phần mềm để mang đi bán lấy tiền thì bị Công an xã Q phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N phát hiện bắt giữ đồng thời thu giữ, niêm phong vật chứng.
- Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 08/09/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND tỉnh N kết luận: 1 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu xanh, số máy MPVN3VN/A, số seri: Q6144DM2G5, số Imei 1: 354952680830084, số Imei 2: 354952680576349, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 9 năm 2025 có giá trị là 11.000.000 đồng.
- 01 chiếc ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu tím, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 9 năm 2025 có giá trị 20.000 đồng.
- 01 chiếc thẻ sim điện thoại nhãn hiệu Viettel 4G, trên sim ghi dãy số 8984048000025327522 có giá trị 50.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự. Chị Lê Thị L đã nhận lại điện thoại và không có yêu cầu thêm gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSDC ngày 20/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Nghệ An truy tố bị cáo Lê Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Nghệ An. Bị cáo bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An trình bày lời luận tội đối với bị cáo Lê Thị N: giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị kết tội các bị cáo Lê Thị N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự theo toàn bộ nội dung cáo trạng. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị N từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập cho bị cáo từ 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) đến 700.0000 đồng (bảy trăm ngàn đồng).
Về trách nhiệm dân sự. bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét;
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Lê Thị N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, lời khai của bị hại, lời khai của người chứng kiến, kết luận định giá tài sản ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Nghệ An, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 03/9/2025, tại khu vực trước cổng Công ty D thuộc xóm L, xã H, tỉnh Nghệ An. Lê Thị N đã có hành vi trộm cắp của chị Lê Thị L một chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 trị giá 11.070.000 đồng (mười một triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng). Vì vậy hành vi của bị cáo Lê Thị N đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An truy tố Lê Thị N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần thiết phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thị N trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt: Xét thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng do đó không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo như đề nghị Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Khấu trừ thu nhập của bị cáo mỗi tháng là 500.000 đồng. Thời gian khấu trừ thu nhập tương ứng với thời gian cải tạo không giam giữ.
[7] Về vật chứng vụ án: Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về trách nhiệm dân sự. Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 36 điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị N 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” được trừ 06 ngày tạm giữ (ngày 07/9/2025 đến ngày 13/09/2025) bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh N nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Khấu trừ thu nhập của bị cáo mỗi tháng là 500.000 đồng. Thời gian khấu trừ thu nhập tương ứng với thời gian cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Lê Thị N cho Công an xã Q, tỉnh Nghệ An trực tiếp thực hiện việc giám sát bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ;
Gia đình người chấp hành án có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục và thông báo kết quả chấp hành án của người chấp hành án cho cơ quan được giao giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người chấp hành án theo yêu cầu của cơ quan được giao giám sát, giáo dục.
Trong trường hợp người chấp hành án hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 100 của Luật thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự. Hội đồng xét xử không xem xét.
Việc xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - VKSND khu vực 3- Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Công an tỉnh Nghệ An; - THADS tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - các bị cáo; - UBND xã Quỳnh Lưu. - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Võ Thị Kim Dung |
Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 66/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 36 điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị Năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” được trừ 06 ngày tạm giữ (ngày 07/9/2025 đến ngày 13/09/2025) bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ
