|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-12-2025. V/v: Tranh chấp ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Thoa;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Văn Cang;
Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Đức Duy, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2025/TLST-HNGĐ, ngày 06/10/2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị X, sinh năm 1990; cư trú tại: khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn B, sinh năm 1987; cư trú tại: khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại Đơn khởi kiện ngày 03/9/2025 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị X trình bày:
Chị và anh Nguyễn Tấn B tự nguyện tìm hiểu và kết hôn năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là phường P, tỉnh Đắk Lắk). Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm; bản thân chị đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.
Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Trần An A, sinh ngày 19/11/2013 và Nguyễn Trần Tố A1, sinh ngày 23/11/2020. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu A1 và giao cho anh B trực tiếp nuôi cháu A, hai người không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ trả nợ: Không có.
Bị đơn anh Nguyễn Tấn B trình bày:
Anh thống nhất việc kết hôn như chị X trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp. Nay chị X yêu cầu ly hôn thì anh thống nhất ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như chị X trình bày. Cháu A hiện đang ở với anh, cháu A1 ở với chị X. Ly hôn, anh thống nhất nuôi cháu A và giao cháu A1 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ trả nợ: Không có.
Do nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hoà giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Trần Thị X và bị đơn anh Nguyễn Tấn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là phường P, tỉnh Đắk Lắk) là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp; nay nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn.
Xét thấy, trong quá trình chung sống, nguyên đơn và bị đơn xảy ra mâu thuẫn và hiện nay không còn sống chung với nhau, không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau dẫn đến hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; bị đơn có ý kiến thống nhất ly hôn. Do đó, yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
[3] Về nuôi con chung: Nguyên đơn và bị đơn có hai con chung là Nguyễn Trần An A, sinh ngày 19/11/2013 và Nguyễn Trần Tố A1, sinh ngày 23/11/2020; cháu A hiện đang ở với bị đơn, cháu A1 đang ở với nguyên đơn. Ly hôn, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu A1 và giao cháu A cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu A và đúng quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Bị đơn thống nhất việc nuôi con như ý kiến của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Các đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Trần Thị X được ly hôn với anh Nguyễn Tấn B.
- Về nuôi con chung: Giao con Nguyễn Trần An A, sinh ngày 19/11/2013 cho anh Nguyễn Tấn B trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Nguyễn Trần Tố A1, sinh ngày 23/11/2020 cho chị Trần Thị X trực tiếp nuôi dưỡng; nguyên đơn và bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. - Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị X phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai số 0001284 ngày 01/10/2025 của Chi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk (Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11).
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Khánh Thoa |
Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Đắk Lắk
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị X yêu cầu ly hôn với anh B và giải quyết việc nuôi con chung
