Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 658/2025/HS-PT

Ngày: 23 -12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh

Bà Bùi Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 430/2025/TLPT-HS ngày 29/10//2025 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự số 109/2025/HS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên Nguyễn Hoàng P; tên gọi khác: không; sinh ngày 14/02/1988, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (nay là ấp P, xã C, tỉnh An Giang); nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1 và bà Bùi Thị Minh H; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: bản án hình sự sơ thẩm số 21/2018/HSST, ngày 30/01/2018, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành án xong bản án; đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/7/2024, chuyển tạm giam từ ngày 09/8/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh T; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo P: Luật sư Lê Thị Quỳnh A – Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt.

1

(Ngoài ra, vụ án còn bị cáo Trần Nhật H1 không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6/2024, Trần Nhật H1 và Nguyễn Hoàng P quen biết nhau, H1 kêu Phủ kiếm chỗ mua chất ma túy thường gọi là ma túy dạng “đá” với giá rẻ để đem về bán và sử dụng, P đồng ý. Thông qua các mối quan hệ ngoài xã hội, P được người nữ tên T (không rõ họ tên địa chỉ) giới thiệu nên có được số điện thoại 0898.738.xxx và liên lạc với người nam tên C (T1) cũng không rõ họ tên, địa chỉ, ở tỉnh Tây Ninh để thỏa thuận mua chất ma túy. Ngày 28/6/2024, P và H1 đến tỉnh Tây Ninh để gặp C (Trọc) thì được hướng dẫn đến địa điểm tại khu vực khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (nay là phường T, tỉnh Tây Ninh). Tại đây, hai bên thỏa thuận Chọc (T1) bán cho H1, P 01 bịch ma túy thường gọi là ma túy dạng “đá” khối lượng 100 gam với giá tiền là 32.000.000 đồng, H1 là người trả tiền mua ma túy.

Sau khi mua được ma túy, H1 đem về tỉnh Đồng Tháp phân lẻ để bán nhưng khi cân lên chỉ được 95 gam. Do P có công liên hệ mua ma túy giúp H1 nên H1 bán rẻ cho P 20 gam với số tiền là 6.000.000 đồng; P đã sử dụng một phần, phần còn lại để trong 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín (bị thu giữ khi bắt quả tang ký hiệu M3.2). Số ma túy còn lại H1 bán cho B (không rõ họ tên địa chỉ) 03 lần, mỗi lần cách nhau khoảng 03 ngày với khối lượng 20 gam/7.000.000 đồng/lần, tổng cộng đã bán cho B 60 gam ma túy với số tiền 21.000.000 đồng; còn lại 15 gam H1 cất giấu tại nhà để sử dụng một mình nhưng chưa sử dụng hết thì bị Cơ quan điều tra phát hiện thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của H1 (niêm phong ký hiệu M5, M6).

Ngày 30/7/2025, H1 kêu P liên lạc với C (T1) để tiếp tục mua ma túy “đá”, P đồng ý và đã liên lạc với C (Trọc) thỏa thuận mua 100 gam ma túy. H1 đã chuyển khoản trước cho P 10.000.000 đồng để mua ma túy và 4.000.000 đồng để P trả tiền xe và chi phí ăn uống. Đồng thời, H1 kêu P hỏi C (T1) có giảm giá bán không vì lần trước mua 100 gam nhưng bị thiếu 05 gam. Sau khi liên lạc với C (T1) thì P điện thoại vào số 0907.057.xxx cho H1 thông báo Chọc (Trọc) giảm giá bán còn 28.000.000 đồng/100 gam ma túy.

Ngày 31/7/2024, H1 tiếp tục chuyển khoản cho P 18.000.000 đồng, tổng là 28.000.000 đồng để mua 100 gam ma túy. Sau đó, H1 kêu P mua thêm 50 gam ma túy và đã chuyển khoản thêm cho Phủ 14 triệu đồng, tổng cộng là 42.000.000 đồng để mua 150 gam ma túy, đồng thời nhắn tin cho P nếu P mua dư thì H1 sẽ thầu hết (lấy hết phần dư). Khi nhận được tiền từ H1, P đã chuyển cho C (Trọc) 34.000.000 đồng qua các số tài khoản do C (Trọc) cung cấp. Đồng thời, P điều khiển xe ô tô biển số 67A-202.70 đi một mình đến tỉnh Tây Ninh để mua ma túy. Khi đi đến điểm hẹn tại khu vực khu phố H, phường H, thị xã H,

2

tỉnh Tây Ninh (nay là phường T, tỉnh Tây Ninh), P không gặp được C (Trọc) mà gặp hai thanh niên lạ mặt, một người đưa cho P 02 bịch nylon màu trắng loại bóp dính miệng chứa chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy (bị thu giữ ký hiệu M1) để đưa cho P đem về cho H1; người còn lại đưa cho P 01 (một) bịch nylon màu trắng loại bóp dính miệng chứa chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy (bị thu giữ ký hiệu M3.1) để P sử dụng, P đã cất giấu toàn bộ chất ma túy vừa nhận được ở trên xe ô tô biển số 67A-202.70 rồi quay trở về hướng tỉnh Đồng Tháp.

Đến 11 giờ 30 cùng ngày, khi P đi đến đoạn đường thuộc khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (nay là phường T, tỉnh Tây Ninh) thì bị Công an thị xã H, tỉnh Tây Ninh tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang thu giữ các chất nghi ma túy được niêm phong ký hiệu M1, M2, M3 nêu trên, trong đó M là do trước đó, P đi hát karaoke cùng người không xác định họ tên, địa chỉ, P lấy trên bàn trong phòng karaoke cất giấu vào ví da của mình để sử dụng.

- Tại Kết luận giám định số: 1510/KL-KTHS, ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

  • + Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) là chất ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng 199,1587 gam.
  • + Mẫu chất bột màu cam (ký hiệu M2) là chất ma túy; Loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine; khối lượng 0,2638 gam
  • + Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M3.1) là chất ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng 9,9169 gam.
  • + Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M3.2) là chất ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng 2,4474 gam.

Tại Kết luận giám định số 1526/KL-KTHS, ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

  • + Mẫu một ít tinh thể màu trắng (ký hiệu M5) bên trong 01 (một) ống nhựa màu trắng và 03 (ba) bịch nylon loại bóp dính miệng là chất ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng 0,0327 gam.
  • + Mẫu 02 (hai) bịch nylon loại bóp dính miệng, kích thước (4x7,4)cm và 02 (hai) bịch nylon loại bóp dính miệng, kích thước (3x4)cm (ký hiệu M6) gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy; loại Methamphetamine; không xác định được khối lượng vì mẫu quá ít.
  • + Mẫu 01 (một) đoạn ống hút nhựa có một đầu tròn và một đầu nhọn, đường kính 1,2cm, chiều dài 20,4cm (ký hiệu M6) gửi đến giám định không tìm thấy chất ma túy.

Quá trình điều tra, Trần Nhật H1, Nguyễn Hoàng P thành khẩn khai báo, tự thú về hành vi phạm tội của mình. H1 và P thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy 02 lần.

Thu giữ của Trần Nhật H1:

3

* Khi khám xét khẩn cấp nơi ở:

  • - 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1526/gói 1, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M1, trợ lý giám định Nguyễn Chí L, bên trong chứa 01 (một) ống nhựa màu trắng và 03 (ba) bịch nylon loại bóp dính miệng, chất ma túy đã giám định hết theo Kết luận giám định số 1526/KL-KTHS, ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T;
  • - 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1526/gói 2, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M1, trợ lý giám định Nguyễn Chí L, bên trong chứa 01 (một) đoạn ống nhựa và 04 (bốn) bịch nylon loại bóp dính miệng, chất ma túy đã giám định hết theo Kết luận giám định số 1526/KL-KTHS, ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T;
  • - 01 (một) cân điện tử, vỏ ngoài bằng nhựa màu bạc, có nắp nhựa trong suốt, không có nhãn hiệu, kích thước 06x12x02 cm; đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) hộp giấy màu đen bên trong hộp màu trắng, kích thước 15x7x3.2 cm;
  • - 01 (một) ống hút nhựa màu đỏ chiều dài ống 34cm;
  • - 01 (một) ống hút nhựa màu hồng chiều dài ống 34cm;
  • - 01 (một) két sắt an toàn nhãn hiệu NL Dusan safe màu đỏ trắng, kiểu khóa chữ cái 04 núm; kích thước (30 x 36 x 48) cm.

* Khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp:

  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Promax màu đen, số Imei 356713116849298, gắn 01 (một) sim thuê bao di động số 0947710368, trên sim có ghi vinaphone 8984 02000 11612770352, được niêm phong theo quy định pháp luật;
  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone 6 màu bạc, Imei 356989064866837, gắn 01 (một) sim thuê bao số 0907057589, trên sim có ghi mobifone số 8401 2302 5036 7601, đã qua sử dụng, được niêm phong theo quy định pháp luật;

Thu giữ của Nguyễn Hoàng P khi bắt quả tang:

  • - 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1510/gói 1, có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T2, trợ lý giám định Nguyễn Thị Thùy D, bên trong chứa chất ma túy sau giám định, loại Methamphetamine, khối lượng: 184,7769 gam (một tám bốn phẩy bảy bảy sáu chín gam) theo Kết luận giám định số: 1510/KL-KTHS, ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T;
  • - 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1510/gói 3, có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T2, trợ lý giám định Nguyễn Thị Thùy D, bên trong chứa chất ma túy sau giám định, loại Methamphetamine, khối lượng: 10,1762 gam (một không phẩy một bảy sáu hai gam) theo Kết luận giám định số: 1510/KL-KTHS, ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T;
  • - 01 (một) bịch nylon màu đen;

4

  • - 01 (một) ví da màu đen cam có chữ Levi's;
  • - 01 (một) hộp nhựa màu đen loại có dây kéo viền ngang màu trắng;
  • - 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng;
  • - 01 (một) bật lửa màu đỏ;
  • - 01 (một) bật lửa bên ngoài dán hình quả táo màu tím;
  • - 01 (một) bình nhựa bên ngoài có số 962 màu đỏ, nắp bình màu đỏ trắng, trên nắp bình có gắn ống thủy tinh có một đầu tròn và một ống hút nhựa màu cam-hồng (bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy).
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Pixel 3XL màu đen, Imei: 358124090185808, gắn sim số 0588516314, trên sim có số 898440509241417689246, được niêm phong theo quy định pháp luật;
  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng, I, bị bể mặt kính phía trước, đã qua sử dụng; gắn sim số 0918656700, trên sim có 89840200011679040574, được niêm phong theo quy định pháp luật;
  • - 01 (một) xe ô tô biển số 67A-202.70, nhãn hiệu HYUNDAI, loại ACCENT, màu trắng, số khung RLUA641BANN071142, số máy G4LCMG032125; xe bị bể kính chắn gió, bể kính cửa xe và hư hỏng nhiều vị trí. Quyết định xử lý tài sản, đồ vật số A2986 ngày 30/4/2025, trả cho người quản lý hợp pháp là ông Lê Hoàng Q.
  • - Tiền Việt Nam 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), được niêm phong theo quy định pháp luật;

Kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản:

  • - Nguyễn Hoàng P, Trần Nhật H1 không có tài sản riêng là nhà đất nên không kê biên.
  • - Đã phong tỏa tài khoản ngân hàng số 8812006762 của Trần Nhật H1 mở tại Ngân hàng Đ (B1-Chi nhánh T3) theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 339 ngày 31/3/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T.

Cáo trạng số 07/CT-VKS-P1, ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố:

  • - Trần Nhật H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • - Nguyễn Hoàng P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại bản án hình sự số 109/2025/HS-ST ngày 24/9/2025, Tòa án nhân dân Tỉnh Tây Ninh quyết định:

5

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Nhật H1 và Nguyễn Hoàng Phủ P2 các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • - Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    • - Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
    • - Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự 2015, buộc bị cáo Nguyễn Hoàng P phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 25 (hai mươi lăm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 31/7/2024.
    • - Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hoàng P 5.000.000 (năm triệu) đồng bổ sung Ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Nhật H1, phần trách nhiệm dân sự, về việc xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 29/9/2025 bị cáo Nguyễn Hoàng P làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, cho rằng mức án Tòa sơ thẩm tuyên là quá cao so với hành vi phạm tội của bị cáo.
  • - Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Tòa cấp phúc thẩm xem xét lại vai trò của bị cáo chỉ là giúp sức cho bị cáo H1, bị cáo P có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS nên áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm - Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 25 năm tù cho cả 02 tội là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về nội dung:

6

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng P thừa nhận về hành vi, tội danh như Tòa cấp sơ thẩm đã xét xử; Lời khai nhận này phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định về ma túy và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ; thể hiện:

Từ tháng 6/2024 đến tháng 7/2024, Trần Nhật H1 đã 02 lần mua ma túy để về chia nhỏ nhằm bán lại cho người khác và để sử dụng, còn bị cáo Nguyễn Hoàng P là người giúp H1 đi mua ma túy về bán và được H1 cho tiền và bán lại ma túy với giá rẻ. Ngày 31/7/2024, P đi đến Tây Ninh để mua ma túy về cho H1 bán, được H1 cho 4.000.000 đồng nhưng trên đường về thì bị lực lượng Công an bắt quả tang tại khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (nay là phường T, tỉnh Tây Ninh), thu giữ 199,1587 gam ma túy loại Methamphetamine.

Ngoài ra, bắt quả tang còn thu giữ của Phủ 12,6281 gam ma túy các loại được Phủ cất giấu để sử dụng gồm: 0,2638 gam ma túy tổng hợp (loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine) do P đi hát Karaoke lấy được, 2,4474 gam ma túy loại Methamphetamine do P mua của H1 sử dụng còn lại và 9,9169 gam ma túy loại Methamphetamine do C (Trọc) cho. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Nhật H1 thu giữ 0,0327 gam ma túy loại Methamphetamine do H1 cất giấu để sử dụng.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố các bị cáo H1, Phủ phạm vào các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại các Điều 251 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[2]. Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hoàng P, thấy rằng:

Tội phạm bị cáo thực hiện là đặc biệt nghiêm trọng (có mức hình phạt từ 20 năm, chung thân hoặc tử hình). Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm tăng tệ nạn xã hội mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân bị cáo P có nhân thân xấu, đã từng bị xử 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo có tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, phòng ngừa loại tội phạm này. Mức án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo P 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 5 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là khởi điểm của khung hình phạt, tương xứng với khối lượng ma túy bị cáo phạm tội và phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt của án sơ thẩm là phù hợp.

[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

[4]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

7

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Về kháng cáo:
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng P. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về hình phạt đối với bị cáo P.

  3. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Phủ P2 các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  4. Về hình phạt:
    • - Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    • - Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự 2015, buộc bị cáo Nguyễn Hoàng P phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 25 (hai mươi lăm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 31/7/2024.
    • - Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hoàng P 5.000.000 (năm triệu) đồng sung Ngân sách nhà nước.
  5. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  6. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  7. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  8. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao(1);
  • - VKSND cấp cao VKSNDTC
  • tại TP.HCM(1);
  • - TAND tỉnh Tây Ninh(1);
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh(1);
  • - THADS tỉnh Tây Ninh(1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh(1);
  • - Trại tạm giam C.A tỉnh Tây Ninh(1);
  • - Công an tỉnh Tây Ninh(1);
  • - Lưu VP án – Thư ký/Thúy

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 658/2025/HS-PT ngày 23/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (vụ án mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 658/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vụ án Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự số 109/2025/HS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger