Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 657/2025/DS-PT

Ngày: 25 -12 - 2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Lê Hồng Hạnh

Các Thẩm phán:

  • Ông Nguyễn Văn Nhân
  • Ông Phạm Tiến Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Đào Thị Tân - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 và 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai cơ sở 2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 652/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”,

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 634/2025/QĐ-PT ngày 08/12/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Quang C, sinh năm 1962; bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1964; Cùng trú tại: Tổ B, ấp M, xã N, tỉnh Đồng Nai

Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng P, sinh năm 1963; bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1966; Cùng trú tại: Tổ B, ấp M, xã N, tỉnh Đồng Nai

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Đồng Nai, địa chỉ: Quốc lộ A, ấp E, xã N, tỉnh Đồng Nai; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Tấn L, chức vụ: Trưởng phòng kinh tế, thuộc UBND xã N, tỉnh Đồng Nai
  • - Anh Trần Quý Đức N, sinh năm 1990; chị Trần Thị N1, sinh năm 1997; Trần Thị T, sinh năm 1991; anh Trần Thiên Niên K, sinh năm 2001; Cùng trú tại: Tổ B, ấp M, xã N, tỉnh Đồng Nai

Do có kháng cáo của nguyên đơn là ông Trần Quang C

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Quang C, bà Nguyễn Thị M trình bày:

Ông C, bà M là chủ sử dụng thửa đất số 211, tờ bản đồ số 18 (nay là thửa đất số 45, tờ bản đồ số 37, tờ bản đồ được điều chỉnh tại Văn bản số: 106/VPĐK-KTĐC ngày 08/7/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ), diện tích 631.0 m², toạ lạc tại ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước, nay là ấp M, xã N, tỉnh Đồng Nai, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số BA 001070, số vào số cấp GCN: CH 00026, do UBND huyện C, tỉnh Bình Phước (cũ) cấp ngày 27/01/2010 cho hộ ông Trần Quang C, bà Nguyễn Thị M; Nguồn gốc thửa đất nêu trên ông C, bà M nhận chuyển nhượng của hộ ông Nguyễn Hồng P năm 1993, theo thoả thuận thì ông P chuyển nhượng cho ông C, bà M phần đất có mặt tiền 10 mét ngang giáp đường Quốc lộ 14 và phần sau giáp đường phân lô của nông trường 10 mét, chiều dài khoảng 68 mét; năm 2008 ông P, bà C1 xây dựng hàng rào lấn chiếm đất của ông C, bà M, theo GCNQSDĐ được Nhà nước cấp cho ông C, bà M và kết quả đo đạc tại sơ đồ đo đạc ngày 30/9/2024 thì ông P, bà C1 đang lấn chiếm, sử dụng của ông C, bà M phần đất có diện tích 174.1 m², phần đất này nằm trong quyền sử dụng đất thửa đất số 211 nên ông C, bà M yêu cầu Toà án buộc ông P, bà C1 trả lại phần diện tích đất lấn chiếm này, đồng thời buộc ông P, bà C1 tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất đã lấn chiếm.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Hồng P, bà Nguyễn Thị C1 trình bày:

Ông P, bà C1 là chủ sử dụng thửa đất số 212, tờ bản đồ số 18 (nay là thửa đất số 23, tờ bản đồ số 38, tờ bản đồ được điều chỉnh tại Văn bản số: 106/VPĐK-KTĐC ngày 08/7/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ), toạ lạc tại ấp E, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước, nay là ấp M, xã N, tỉnh Đồng Nai, giáp với thửa đất số 212 của ông P, bà C1 về phía Tây là thửa đất số 211, tờ bản đồ số 18 của hộ ông C, bà M, thửa đất này có nguồn gốc ông P, bà C1 chuyển nhượng cho ông C, bà M năm 1993; năm 1994 ông P, bà C1 đã giao đủ đất cho ông C, bà M sử dụng; năm 2008 ông P, bà C1 xây dựng hàng rào xác định ranh giới rõ ràng, không có tranh chấp; năm 2009 ông P, bà C1 đã giao GCNQSDĐ cho ông C, bà M làm thủ tục tách thửa ra thửa đất số 211 và ông C, bà M đã được cấp GCNQSDĐ. Giáp với phần đất ông P, bà C1 chuyển nhượng cho ông C, bà M về phía T1 có một con đường đất rộng khoảng 2.5 mét nhưng cho đến nay đã được mở rộng thành con đường có chiều rộng khoảng hơn 5 mét nên phần đất của ông C, bà M bị thu hẹp, không đủ 10 mét ngang mặt tiền Quốc lộ A là đúng, nguyên nhân thiếu đất của ông C, bà M là do mở rộng đường, không phải do ông P, bà C1 giao thiếu đất hay lấn chiếm. Nay ông C, bà M đo đạc thấy có phần đất có diện tích 174.1 m² ông P, bà C1 đang sử dụng nhưng nằm trong GCNQSDĐ của ông C, bà M nên cho rằng ông P, bà C1 lấn chiếm là sai trái, không chỉ riêng thửa đất số 211 và 212 bị sai ranh mà trên địa bàn xã M, thị xã

3

C, tỉnh Bình Phước (nay là xã N, tỉnh Đồng Nai) tình trạng bị sai ranh theo GCNQSDĐ rất phổ biến, Nhà nước đã đo đạc lại theo hiện trạng. Ông P, bà C1 xác định không lấn chiếm đất của ông C, bà M nên không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của ông C, bà M như nêu trên.

Ngoài việc không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của ông C, bà M thì ông P, bà C1 có yêu cầu phản tố yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề gồm:

Yêu cầu Tòa án công nhận cho ông P, bà C1 được quyền quản lý và sử dụng hợp pháp đối với phần diện tích đất 174,1 m², phần đất này thuộc thửa đất 211, GCNQSDĐ cấp cho hộ ông Trần Quang C, bà Nguyễn Thị M;

Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai điều chỉnh phần diện tích 174.1 m² nêu trên từ thửa đất số 211 của hộ ông C, bà M sang thửa đất số 212 của ông P, bà C1.

Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Quý Đức N, anh Trần Thiên Niên K, chị Trần Thị N1 và chị Trần Thị T trình bày:

Anh N, anh K, chị N1 và chị T là con đẻ của ông C, bà M, đối với tài sản là quyền sử dụng đất thửa đất số 211, tờ bản đồ số 18, diện tích 631.0 m², toạ lạc tại ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước, nay là ấp M, xã N, tỉnh Đồng Nai, GCNQSDĐ số BA 001070, số vào sổ cấp GCN: CH 00026, do UBND huyện C, tỉnh Bình Phước (cũ) cấp ngày 27/01/2010 cho hộ ông Trần Quang C, bà Nguyễn Thị M là tài sản riêng của cha mẹ (ông C, bà M). Anh N, anh K, chị N1 và chị T không có đóng góp công sức gì tạo lập nên tài sản này. Nay Anh N, anh K, chị N1 và chị T thống nhất với các yêu cầu khởi kiện của ông C, bà M và đề nghị Toà chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của ông C, bà M. Ngoài ra, không có ý kiến nào khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai đã quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Hồng D đối với bị đơn Phạm Văn L1 về việc yêu cầu trả số tiền vay 105.000.000 đồng (theo Giấy nộp tiền” ngày 18/8/2020 và “Giấy chứng nhận giao dịch” ngày 27/12/2021)

Công nhận cho ông Nguyễn Hồng P, bà Nguyễn Thị C1 được quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 174.1 m² theo ranh hiện trạng (tranh thực tế sử dụng), phần đất này nằm trong thửa đất số 211, tờ bản đồ số 18 (nay là thửa đất số 45, tờ bản đồ số 37), toạ lạc tại ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước, nay là ấp M, xã N, tỉnh Đồng Nai; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BA 001070, số vào sổ cấp GCN: CH 00026, do UBND huyện C, tỉnh Bình Phước (cũ) cấp ngày 27/01/2010 cho hộ ông Trần Quang C, bà Nguyễn Thị M. (Vị trí diện tích đất, ranh hiện trạng (thực tế) sử dụng nêu trên được thể hiện tại sơ đồ đo đạc được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký duyệt ngày 30/9/2024).

- Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai (cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành) điều chỉnh lại phần đất có diện tích 174.1 m² nêu trên từ thửa đất sổ số 211, tờ bản đồ số 18 (nay là thửa

4

đất số 45, tờ bản đồ số 37) của hộ ông Trần Quang C, bà Nguyễn Thị M sang thửa đất số 212, tờ bản đồ số 18 (nay là thửa đất số 23, tờ bản đồ số 38) của ông Nguyễn Hồng P, bà Nguyễn Thị C1.

Ông Nguyễn Hồng P, bà Nguyễn Thị C1 có trách nhiệm liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai để đăng ký điều chỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo trình tự thủ tục quy định của Luật Đất đai đối với phần đất 174.1 m² nêu trên theo sơ đồ đo đạc đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký duyệt ngày 30/9/2024 (Có sơ đồ đo đạc kèm theo).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 14/9/2025, nguyên đơn ông Trần Quang C nộp đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm 49/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đồng Nai theo hướng chấp chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Với những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông C, bà M; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Quang C và bà Nguyễn Thị M làm trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên cần xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông C, bà M. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Năm 1993 ông C, bà M có nhận chuyển nhượng của ông P, bà C1 phần đất có chiều ngang mặt tiền đường Quốc lộ 14 là 10 mét và dài khoảng 68 mét, toạ lạc tại ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước (nay là ấp M, xã N, tỉnh Đồng Nai), phần đất này nằm trong tổng diện tích đất khoảng hơn 3000 m² ông P, bà C1 đang sử dụng,

5

đất chưa được cấp GCNQSDĐ, hai bên viết giấy tay mua bán đất; năm 1994 ông P, bà C1 đã giao đủ diện tích đất nêu trên cho ông C, bà M sử dụng. Tại phiên toà các đương đều thừa nhận nội dung trên là đúng sự thật nên đây là tình tiết không phải chứng minh quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 03/10/2000 hộ ông P được UBND huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ) cấp GCNQDĐ số: 00027/QSDĐ/1923/QĐUB.H, diện tích 3215 m²; đến ngày 30/11/2004 ông P, bà C1 được UBND huyện C, tỉnh Bình Phước (cũ) cấp đổi GCNQSDĐ số:01167/QSDĐ/3022/QĐ-UBH, thửa đất số 136, tờ bản đồ số 18, diện tích 3328 m², trong đó có phần đất đã chuyển nhượng cho ông C, bà M; năm 2009, bị đơn ông P đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình mình cho nguyên đơn ông C. Chính ông C là người tự làm thủ tục tách thửa phần đất nhận chuyển nhượng của ông P, bà C1 như nêu trên thành thửa đất số 211, tờ bản đồ số 18, diện tích 631.0 m², được UBND huyện C, tỉnh Bình Phước (cũ) cấp GCNQSDĐ số BA 001070, số vào sổ cấp GCN: CH 00026, cấp ngày 27/01/2010 cho hộ ông C, bà M; phần đất còn lại của ông P, bà C1 sử dụng được đổi thành thửa đất số 212, diện tích 1672 m². Như vậy, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, hồ sơ cấp GCNQSDĐ nêu trên thì Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định quyền sử dụng đất thửa đất số 211 của ông C, bà M có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông P, bà C1 năm 1993.

Năm 1994 ông P, bà C1 đã giao đủ diện tích đất cho ông C, bà M sử dụng và ông C, bà M cũng thừa nhận đã nhận đủ diện tích đất do ông P, bà C1 giao, điều này chứng minh quá trình sử dụng đất của ông C, bà M là ổn định, liên tục từ năm 1994 cho đến nay. Theo kết quả đo đạc được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B (nay là SNN&MT tỉnh Đ) ký duyệt ngày 30/9/2024 và kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 11/12/2024 thể hiện theo hiện trạng sử dụng thì ranh giới giữa thửa đất số 211 của ông C, bà M và thửa đất số 212 của ông P, bà C1 được xác lập bằng hàng rào, có kết cấu móng, chân tường xây bằng gạch, trụ xi măng và lưới B40, hàng rào này do ông P, bà C1 xây dựng vào năm 2008; theo ranh thể hiện trên GCNQSDĐ thì thửa đất số 211 của ông C, bà M bị chồng lấn lên phần đất mà ông P, bà C1 đang sử dụng thực tế, diện tích là 174.1 m², trên phần đất này ông P, bà C1 xây dựng hàng rào như nêu trên, một phần chuồng heo có diện tích 6.4 m²; ngoài ra ông P, bà C1 còn trồng 01 cây xoài, 02 cây mít và 01 bụi tầm vông. Như vậy, ranh giới của 02 thửa đất số 211 và 212 không trùng khớp giữa ranh thực tế các bên đang sử dụng và ranh theo GCNQSDĐ.

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn ông C trình bày năm 2008, ông C biết bị đơn ông P xây dựng hàng rào bằng gạch cũng như xây chuồng nuôi heo, gà nhưng ông C không có ý kiến gì. Đến năm 2013 thì gia đình ông C cũng xây G sửa xe ô tô cho con ở sát bên tường gạch mà phía bị đơn ông P đã xây sẵn. Nguyên đơn ông C cũng trình bày, mặc dù năm 2010 gia đình ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thực tế ông C cũng không xác định được đất từ đâu đến đâu. Mãi đến năm 2023, khi đoan đo đạc chính quy về đo, vẽ, thì ông C mới biết đất của mình bị thiếu và thực hiện việc khởi kiện bị đơn ra Tòa.

6

Như vậy có thể thấy, xét về thời gian ông C, bà M làm thủ tục tách thửa năm 2009 và được cấp GCNQSDĐ năm 2010 thì tại thời điểm này ranh giới thực tế giữa hai gia đình đã tôn tại và được hai bên đương sự tôn trọng và mặc nhiên thừa nhận các tài sản đó là: gia đình ông P đã xây dựng hàng rào, kết cấu xây dựng móng, chân bằng gạch, trụ xi măng và lưới B40 (xây dựng năm 2008) xác lập ranh giới thực tế giữa thửa đất của ông P, bà C1 và phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông C, bà M; tại biên bản kiểm tra thửa đất lập hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/11/2009 kết luận diện tích chuyển nhượng quyền sử dụng đất 631 m², trong tổng diện tích 3328 m², thuộc thửa đất số 136, tờ bản đồ số 18 đã được kiểm tra hồ sơ, xác minh thực địa, hiện trạng sử dụng đất ổn định không có tranh chấp, khiếu nại, đủ điều kiện để lập hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chỉnh lý hồ sơ địa chính, biên bản này đã được ông P và ông C và đại diện UBND xã M, đại diện Văn phòng đăng lý đất đai huyện C ký xác nhận nhưng theo kết quả đo đạc ngày 30/9/2024 thể hiện ranh thửa đất số 211 của ông C, bà M nằm chồng lấn qua hàng rào do ông P, bà C1 xây dựng, diện tích chồng lấn là 174.1 m². Như vậy, việc xác định ranh theo GCNQSDĐ giữa thửa đất số 211 của ông C, bà M và thửa đất số 212 của P, bà C1 khi thực hiện việc tách thửa, cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 211 cho hộ ông C, bà M không đúng với ranh thực tế mà các bên đang sử dụng và thừa nhận từ trước đến nay.

Tại phiên tòa phúc thẩm, như đã phân tích trên ông C cũng khẳng định khi bị đơn ông P xây tường rào, chuồng nuôi heo, gà thì phía nguyên đơn không có ý kiến phản đối. Phía nguyên đơn cũng căn cứ vào tường rào mà bị đơn đã xây trước đó để xây dựng gara sửa xe ô tô năm 2013. Từ những nhận định trên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông P, bà C1 không có hành vi lấn chiếm phần đất của ông C, bà M và công nhận quyền sử dụng đất theo hiện trạng sử dụng là phù hợp. Nên yêu cầu khởi kiện của ông C, bà M yêu cầu ông P, bà C1 trả lại phần đất có diện tích đất 174.1 m² nêu trên và tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất này là không có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, ông C, bà M kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Do vậy, kháng cáo của ông C, bà M không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông C, bà M không được chấp nhận nên phải chịu. Tuy nhiên, ông C và bà M có đơn xin miễn án phí (lý do trên 60 tuổi) nên được miễn án phí.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

7

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Quang C và bà Nguyễn Thị M.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đồng Nai.

Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; các Điều 144; 147; 202; 266; 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 166; 175 và Điều 176 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 97; 106; 202 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 (Điều 136; 152; 235 và 236 Luật Đất đai năm 2024);

Căn cứ điểm đ Điều 12; khoản 2 Điều 26 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quang C và bà Nguyễn Thị M đối với bị đơn ông Nguyễn Hồng P và bị đơn Nguyễn Thị C1 về việc yêu cầu ông P và bà C1 có nghĩa vụ trả lại cho ông C, bà M phần đất lấn chiếm có diện tích 174.1 m2 và tháo dỡ công trình xây dựng trên phần đất này.

Công nhận cho ông Nguyễn Hồng P, bà Nguyễn Thị C1 được quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 174.1 m² theo ranh hiện trạng (tranh thực tế sử dụng), phần đất này nằm trong thửa đất số 211, tờ bản đồ số 18 (nay là thửa đất số 45, tờ bản đồ số 37), toạ lạc tại ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước, nay là ấp M, xã N, tỉnh Đồng Nai; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BA 001070, số vào sổ cấp GCN: CH 00026, do UBND huyện C, tỉnh Bình Phước (cũ) cấp ngày 27/01/2010 cho hộ ông Trần Quang C, bà Nguyễn Thị M. (Vị trí diện tích đất, ranh hiện trạng (thực tế) sử dụng nêu trên được thể hiện tại sơ đồ đo đạc được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký duyệt ngày 30/9/2024).

- Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai (cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành) điều chỉnh lại phần đất có diện tích 174.1 m² nêu trên từ thửa đất số số 211, tờ bản đồ số 18 (nay là thửa đất số 45, tờ bản đồ số 37) của hộ ông Trần Quang C, bà Nguyễn Thị M sang thửa đất số 212, tờ bản đồ số 18 (nay là thửa đất số 23, tờ bản đồ số 38) của ông Nguyễn Hồng P, bà Nguyễn Thị C1.

Ông Nguyễn Hồng P, bà Nguyễn Thị C1 có trách nhiệm liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai để đăng ký điều chỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo trình tự thủ tục quy định của Luật Đất đai đối với phần đất 174.1 m² nêu trên theo sơ đồ đo đạc đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký duyệt ngày 30/9/2024 (Có sơ đồ đo đạc kèm theo).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Quang C, bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Hồng P, bà Nguyễn Thị C1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho ông P, bà C1 số tiền 600.000 đồng nộp tạm ứng án phí tại Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đ (Biên lai số: 0004727 ngày 07/02/2025).

Ông Trần Quang C, bà Nguyễn Thị M phải chịu chi phí đo đạc với số tiền

8

20.970.000 đồng tại Hợp đồng số: 3q/HĐ-KT ngày 18/3/2024, phiếu thu ngày 30/9/2024 của Công ty TNHH MTV Đ, được trừ vào số tiền 20.970.000 đồng ông C, bà M đã nộp tại phiếu thu ngày 15/3/2024 và ngày 02/10/2024 của Toà án và ông C, bà M phải chịu số tiền 3.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá, được trừ vào số tiền 3.000.000 đồng ông C, bà M đã nộp tại phiếu thu ngày 04/12/2024 của Toà án.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Trần Quang C, bà Nguyễn Thị M được miễn.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND, VKSND khu vực 10 – Đồng Nai;
  • - THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: HSVA, VT, TỔ HC-TP, NTT, 16b.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 657/2025/DS-PT ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 657/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đặt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger