|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-PHÚ THỌ Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-12-2025 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Triển
Ông Phùng Văn Thông
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Mạnh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Xuân- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2025/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thúy N, sinh năm 1965 (vắng mặt);
Nơi ĐKHHTT: Thôn T, xã V, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện tại: Nhà số C, ngõ B, phố T, xã V, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Ông Nguyễn Viết V, sinh năm 1962 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn T, xã V, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 27/10/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Thúy N trình bày:
Bà kết hôn cùng ông Nguyễn Viết V vào ngày 13 tháng 03 năm 1997, có đăng ký tại UBND xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã V, tỉnh Phú Thọ). Cuộc sống vợ chồng bình thường đến năm 2015 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên lời qua tiếng lại. Tình cảm vợ chồng vì thế ngày càng rạn nứt, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ giữa năm 2015 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải để vợ chồng đoàn tụ với nhau nhưng đều không được. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin được ly hôn ông Nguyễn Viết Vĩnh .
Về con chung: Vợ chồng bà có hai con chung là Nguyễn Thị Thương H, sinh ngày 13/12/1997 và Nguyễn Minh H1, sinh ngày 04/04/2005. Hiện nay, các cháu đều đã thành niên nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ, đất canh tác và công sức: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Viết V trình bày: Về thời gian kết hôn, quá trình chung sống cũng như nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như bà N trình bày là đúng. Nay bà N xin ly hôn, ông đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng ông có hai con chung như bà N trình bày. Hiện nay, các cháu đã thành niên nên ông cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ, đất canh tác và công sức: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã V thể hiện: Bà N và ông V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã V, tỉnh Phú Thọ) vào ngày 13/3/1997. Ông bà có hai con chung là Nguyễn Thị Thương H, sinh ngày 13/12/1997 và Nguyễn Minh H1, sinh ngày 04/04/2005. Hiện nay, các cháu đều đã thành niên. Quá trình chung sống, vợ chồng ông bà có mâu thuẫn gì hay không, địa phương không nắm được. Nay bà N xin ly hôn ông V, quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thúy N.
Cho bà Lê Thị Thúy N được ly hôn ông Nguyễn Viết Vĩnh .
Về con chung, tài sản, vay nợ, công sức, đất canh tác: Bà N và ông V không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà N và ông V đều là người cao tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bà N, ông V theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị Thúy N khởi kiện xin ly hôn ông Nguyễn Viết V, có nơi cư trú tại thôn T, xã V, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Lê Thị Thúy N và ông Nguyễn Viết V vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thúy N
Về quan hệ hôn nhân, bà Lê Thị Thúy N và ông Nguyễn Viết V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã V, tỉnh Phú Thọ) vào ngày 13/3/1997, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên lời qua tiếng lại, không tìm được tiếng nói chung. Từ giữa năm 2015 đến nay, hai bên đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Việc sống ly thân trong thời gian dài thể hiện tình trạng hôn nhân đã thực tế tan vỡ, quan hệ vợ chồng chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa pháp lý. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện để các bên đoàn tụ nhưng không đạt kết quả; bản thân các đương sự cũng xác định tình cảm không còn và cùng thống nhất ly hôn. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Thúy N.
Về con chung: Bà N, ông V có hai con chung là Nguyễn Thị Thương H, sinh ngày 13/12/1997 và Nguyễn Minh H1, sinh ngày 04/4/2005. Hiện nay, các cháu đã thành niên, có khả năng tự lao động, tự quyết định cuộc sống của mình; bà N và ông V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản, vay nợ, công sức, đất canh tác: Bà N và ông V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Bà Lê Thị Thúy N và ông Nguyễn Viết V là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, nên miễn án phí cho bà N, ông V.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào Điều 147, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thúy N.
Cho bà Lê Thị Thúy N được ly hôn ông Nguyễn Viết Vĩnh .
Về án phí: Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho bà Lê Thị Thúy N và ông Nguyễn Viết Vĩnh .
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liên |
Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
