TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- HẢI PHÒNG Bản án số: 62/2025/HS-ST Ngày 30-12-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc —————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Đào Thị Nguyện
Bà Nguyễn Thị Tâm
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7- Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/HSST-QĐ ngày 17 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Vũ Trường G, sinh ngày 29-12-1999 tại Thái Bình (nay là Hưng Yên). Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn H, xã Đ, tỉnh Hưng Yên); nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T và bà Ngô Thị H (đã chết); có vợ là Phạm Thị Mỹ L và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 20-4-2023 Công an huyện T, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính 4.000.000 đồng đối với Vũ Trường G về hành vi mang theo đao tự chế nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác. Ngày 26-4-2023, Vũ Trường G đã nộp phạt (được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31-7-2025 đến nay đến nay; có mặt
Bị hại:
- Chị Trần Thị H1, sinh năm 1983; đăng ký thường trú: Thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng (nay là thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng); nơi ở: Thôn A, xã T, thành phố Hải Phòng; có mặt
- Cháu Mai Hải A, sinh năm 2009; đăng ký thường trú: Thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng (nay là thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng). Người đại diện hợp pháp của cháu Mai Hải A: Chị Trần Thị H1, sinh năm 1983 (là mẹ đẻ); đăng ký thường trú: Thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng (nay là thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng); nơi ở: Thôn A, xã T, thành phố Hải Phòng; cháu Mai Hải A vắng mặt; chị H1 có mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đinh Văn H2, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 20 phút ngày 15 tháng 02 năm 2025, Vũ Trường G (có giấy phép lái xe hạng B2 do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 12-5-2021, có giá trị đến ngày 12-5-2031) ở thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn H, xã Đ, tỉnh Hưng Yên) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 24C-136.58 đi trên Quốc lộ C mới hướng từ Thái Bình về Quốc lộ A. Khi xe ô tô đi đến ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ C mới với đường trục xã T cũ (nay là xã V) thuộc địa phận thôn A, xã T, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng, do thiếu quan sát, không giảm tốc độ đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát: 17N1-2240 do chị Trần Thị H1, sinh năm 1983 điều khiển chở con trai là Mai Hải A, sinh năm 2009 cùng ở xã T, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng đi trên đường trục xã T cũ, theo hướng từ xã T cũ về xã V cũ (xe mô tô di chuyển theo hướng từ bên trái sang bên phải theo hướng di chuyển của xe ô tô). Hậu quả chị H1, cháu Hải A bị thương được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1-V, sau đó chuyển Bệnh viện V cấp cứu điều trị. Ngày 24-02-2025, cháu Mai Hải A xuất viện, ngày 12-3-2025 chị H1 xuất viện.
Sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, thu giữ video có liên quan đến vụ tai nạn giao thông. Kết quả như sau:
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại ngã 4 đèn xanh, đỏ địa phận thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng. Hướng B và hướng Đ đều là hướng đi ra Quốc lộ A, mép chuẩn là mép vạch song song với phần hướng Đông ngã tư. Điểm mốc là cột cây số 13. (1) xe mô tô biển kiểm soát: 17N1-2240 đổ nghiêng bên trái, trục trước xe quay về hướng T, cách mép chuẩn 2,3m, cách tâm ngã tư 18,8m, trục sau xe mô tô quay về hướng Đông Bắc, cách mép chuẩn 1,5m, cách tâm vết máu 1,2m, cách trục sau bên phải xe ô tô BKS: 24C-136.58 là 6,4m. (2) xe ô tô biển kiểm soát: 24C-136.58 đầu xe quay hướng Bắc, trục trước bên phải cách mép chuẩn 3,3m, cách trục sau xe mô tô 6,4m. (3) vết máu có kích thước 0,6x0,5m, tâm vết máu cách mép chuẩn 0,4m, cách trục sau xe mô tô 1,2m. (4) vết xước đứt đoạn dài 20,5m, đầu vết xước nằm ở hướng N, cách mép chuẩn 3,3m, cách tâm ngã 4 là 02m, cuối vết xước nằm dưới trục giữa xe mô tô. (5) cột cây số km13 nằm trên lề đường Đ, cách trục trước bên phải xe ô tô 49,2m. Thu giữ xe ô tô biển kiểm soát: 24C-136.58 và xe mô tô biển kiểm soát: 17N1-2240.
Tại bản kết luận giám định số 1372/KL-KTHS ngày 03-6-2025 của Phòng K Công an thành phố H về dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát: 24C-136.58 và xe mô tô biển kiểm soát: 17N1-2240: “Dấu vết trượt xước mất sơn màu trắng, bề mặt bám dính tạp chất màu đỏ và màu đen (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau ở mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ cản trước bên phải (bên phụ) xe ô tô biển kiểm soát: 24C-138.58 (Ảnh 05, 06; bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn (màu đỏ và màu đen) bám dính tạp chất màu trắng (dạng sơn) theo chiều từ phải sang trái ở yếm phải xe mô tô biển kiểm soát: 17N1-2240 (ảnh 11, 12 bản ảnh giám định).
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 308/2025/KLTgTHS-TTPYHP ngày 23-6-2025 của Trung tâm P đối với thương tích của chị Trần Thị H1: “Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thị H1 qua hồ sơ là 85%, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương khoé trong mắt phải gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương khoé ngoài mắt phải gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương khoé trong mắt trái gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương khoé ngoài mắt trái gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương trên môi gây nên là 06%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương môi trên gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết phẫu thuật trán trái gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết phẫu thuật kết hợp xương gò má phải gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do mở khí quản gây nên là 05%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết phẫu thuật dẫn lưu khoang màng phổi phải gây nên là 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết phẫu thuật kết hợp xương đòn phải gây nên là: 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết phẫu thuật kết hợp xương mác phải gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do 02 vết bắt vít mắt cá trong chân phải gây nên là 01% và 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tụ máu dưới màng cứng gây nên là 08%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do xuất huyết dưới nhện gây nên là 08%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy xương hàm trên gây nên là 09%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy vỡ thành xoang hàm phải gây nên là 08%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy cung tiếp xương gò má phải gây nên là 09%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy thành hốc mắt phải gây nên là: 06%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy xương đòn phải gây nên là 08%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy 04 xương sườn bên phải gây nên là 02%; 02%; 02% và 02%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương màng phổi phải gây nên là 04%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vỡ thận trái độ 3 gây nên là 09%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy ngành lên và dưới xương mu trái gây nên là 12% và 12%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy xương cánh chậu trái gây nên là 18%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy cánh xương cùng trái gây nên là 06%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do trật khớp cổ chân trái đã nắn chỉnh gây nên là 02%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy đầu dưới xương mác gây nên là 08%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy mắt cá trong chân phải gây nên là 08%. Kết luận khác: Các thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày, có thể có góc cạnh cứng gây nên”.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 307/2025/KLTgTHS-TTPYHP ngày 20-6-2025 của Trung tâm P đối với Mai Hải A: “Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Mai Hải A qua hồ sơ là 65%, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tụ máu dưới màng cứng gây nên là 11%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tụ máu ngoài màng cứng gây nên là 11%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do chảy máu dưới nhện gây nên là 11%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do đụng dập nhu mô não thuỳ trán phải gây nên là 21%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vỡ xương đỉnh phải gây nên là 17%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vỡ xương đỉnh trái gây nên là 09%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do đụng dập nhu mô phổi phải gây nên là 07%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương màng phổi phải gây nên là 03%.Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do đụng dập thận gây nên là 09%. Sưng nề xây xước da một số nơi do giám định qua hồ sơ nên không có căn cứ đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Ô khuyết xương sọ vùng thái dương đỉnh phải là do phẫu thuật sọ não cũ nên không đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Kết luận khác: Các thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày, có thể có góc cạnh cứng gây nên”.
Tại Công văn số 52/2025/GĐTH-TTPY ngày 11-7-2025 của Trung tâm P xác định: “Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân Mai Hải A và nạn nhân Trần Thị H1 là: 65%+85%=150%" .
Tại bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 03-6-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V có nội dung: “Tổng giá trị thiệt hại đối với xe mô tô mang biển kiểm soát: 17N1-2240 nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen tại thời điểm ngày 15-02-2025 là 2.020.000 đồng”.
Tại bản kết luận giám định số 1975/KL-KTHS ngày 29-7-2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “01 tập video có phần mở rộng MP4 dung lượng 785KB (MD5:58E51B66D2B760EC0192170BA6A16BFA) được lưu trong 01 đĩa DVD đã qua sử dụng (ký hiệu A) không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh”.
Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 15-02-2025 đối với Vũ Trường G xác định âm tính với các chất ma tuý; định lượng Alcol etanol là 1.08 mmol/L.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Vũ Trường G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và khai: Sáng ngày 15 tháng 02 năm 2025 G khiển xe ô tô biển kiểm soát: 24C-136.58 đi trên Quốc lộ C mới hướng từ Thái Bình về Quốc lộ A. Khi xe ô tô đi đến ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ C mới với đường trục xã T cũ (nay là xã V) thuộc địa phận thôn A, xã T, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng, do thiếu quan sát, không giảm tốc độ đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát: 17N1-2240 do chị Trần Thị H1, sinh năm 1983 điều khiển chở con trai là Mai Hải A, sinh năm 2009 cùng ở xã T, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng đi trên đường trục xã T cũ, theo hướng từ xã T cũ về xã V cũ (xe mô tô di chuyển theo hướng từ bên trái sang bên phải theo hướng di chuyển của xe ô tô). Hậu quả chị H1, cháu Hải A bị thương được G và người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật, xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã thu giữ xe ô tô biển kiểm soát: 24C-136.58; xe mô tô biển kiểm soát: 17N1-2240 và 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 010190055397 mang tên Vũ Trường G do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 12-5-2021 có giá trị đến ngày 12-5-2031.
Về trách nhiệm dân sự: Vũ Trường G đã tự nguyện bồi thường cho chị Trần Thị H1 và cháu Mai Hải A tổng số tiền là 170.000.000 đồng (Một trăm bẩy mươi triệu đồng). Chị H1, cháu Hải A không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Với các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 14 tháng 7 năm 2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định khởi tố vụ án 591/QĐ-VPCQCSĐT về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; Quyết định khởi tố bị can số 1500/QĐ-VPCQCSĐT ngày 31-7-2025 đối với Vũ Trường G về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, quy định tại điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 12 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng đã truy tố Vũ Trường G về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Trường G đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội khẳng định việc truy tố Vũ Trường G về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Vũ Trường G phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, xử phạt Vũ Trường G 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo. Về dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết. Về vật chứng: Trả lại bị cáo Vũ trường G 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Vũ Trường G. Về án phí: Bị cáo G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, phù hợp với kết luận của bản kết luận giám định pháp y và các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 05 giờ 20 phút ngày 15 tháng 02 năm 2025, tại Quốc lộ C thuộc thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng, Vũ Trường G điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 24C-136.58 đi từ Thái Bình về xã V, thành phố Hải Phòng. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ C mới với đường trục xã T cũ (nay là xã V) do thiếu quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát 17N1-2240 do chị Trần Thị H1 điều khiển chở con là Mai Hải A đi theo hướng từ xã T cũ về xã V cũ (theo hướng từ bên trái sang bên phải theo hướng di chuyển của xe ô tô), hậu quả làm chị H1 bị tổn thương cơ thể 85%, cháu Hải A bị tổn thương cơ thể 65%. Vũ Trường G đã vi phạm quy định tại các điểm b, d khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ. Do đó, hành vi của bị cáo Vũ Trường G đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Vũ Trường G điều khiển xe ô tô đâm vào xe mô tô do chị Trần Thị H1 điều khiển chở theo con là cháu Mai Hải A hậu quả làm chị Trần Thị H1 và cháu Mai Hải A đều bị thương, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị H1 và cháu Hải A là 150%. Do đó Vũ Trường G phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự: “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của hai người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%”. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần phải xử lý bị cáo theo pháp luật của N.
[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, bị cáo có 01 tiền sự đã được xóa. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã bồi thường cho bị hại và được bị hại giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong vụ án này, bị hại có một phần lỗi khi tham gia giao thông không đảm bảo quy định về nhường đường tại nơi đường giao nhau, quy định tại khoản 2 Điều 22 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội do lỗi vô ý. Vì vậy, để đảm bảo mục đích của hình phạt là răn đe, phòng ngừa tội phạm, đồng thời tạo điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh của bị cáo là lao động chính trong gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về dân sự: Bị cáo Vũ Trường G đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 170.000.000 đồng (Một trăm bẩy mươi triệu đồng). Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã thu giữ xe xe ô tô biển kiểm soát 24C-136.58; xe mô tô biển kiểm soát: 17N1-2240; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 010190055397 mang tên Vũ Trường G. Qua xác minh xe ô tô 24C-136.58 là tài sản hợp pháp của anh Đinh Văn H2, sinh năm 1975 ở thôn Đ, xã T, tỉnh Hưng Yên; xe mô tô biển kiểm soát: 17N1-2240 là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị H1. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh H2 và chị H1 là đúng quy định. Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 010190055397 mang tên Vũ Trường G do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 12-5-2021 có giá trị đến ngày 12-5-2031 là của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Vũ Trường G tài sản này.
[10] Trong vụ án này, chị Trần Thị H1 điều khiển xe mô tô tham gia giao thông nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã chuyển hồ sơ, tài liệu đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố H để xử phạt vi phạm hành chính đối với chị H1 theo quy định pháp luật
[11] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 6, Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Vũ Trường G phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật
[12] Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Vũ Trường G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Vũ Trường G 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo là 60 (Sáu mươi) tháng. Thời hạn thử thách án treo tính từ ngày tuyên án.
Giao Vũ Trường G cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Hưng Yên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo Vũ Trường G có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú; lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.
Căn cứ Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Vũ Trường G.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; trả lại bị cáo Vũ Trường G 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 010190055397 mang tên Vũ Trường G, do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 12-5-2021 (Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Hải Phòng ngày 18-11-2025).
Về án phí: Căn khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo Vũ Trường G phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy đinh của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 62/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 62/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự đối với Vũ Truong G phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
