|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST
Ngày 24-12-2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
giữa chị Duyên và anh Huy”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hoàng Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh
Bà Hoàng Thị Thu Hường
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9,
tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện VKSND khu vực 9, tỉnh Ninh bình: Ông Trần Văn Q - Kiểm sát
viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 91/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thúy D, sinh ngày 02/01/1999; Căn cước công dân
số 008199005442, cấp ngày 21/02/2024.
Nơi thường trú: Thôn Q, xã T, tỉnh Tuyên Quang.
- Bị đơn: Anh Phạm Quốc H, sinh ngày 18/4/1996; Căn cước công dân số
036096000356, cấp ngày 16/01/2022.
Nơi thường trú: Xóm H, xã N, tỉnh Ninh Bình (xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ).
Tại phiên tòa: Chị D có đơn xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt lần thứ 2 mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 10 năm 2025, bản tự khai, nguyên đơn chị
Đỗ Thị Thúy D trình bày:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Quốc H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 22 tháng 7 năm 2020. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng bình thường, từ tháng 9/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H ham chơi dẫn đến nợ nần, không tu trí làm ăn, không chăm lo cho gia đình; vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung và đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm giữa chị với anh H không còn, không thể chung sống cùng nhau được nữa. Chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh H.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Duy K, sinh ngày 03/01/2021, hiện con chung đang ở cùng chị tại nhà bố mẹ đẻ chị tại Thôn Q, xã T, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công nợ: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 13 tháng 11 năm 2025, chính quyền địa phương xã N, tỉnh Ninh Bình trình bày:
Chị Đỗ Thị Thúy D và anh Phạm Quốc H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 22 tháng 7 năm 2020. Quá trình chung sống được biết anh chị có xảy ra mâu thuẫn về kinh tế, sau đó cuộc sống của anh chị có còn chung sống với nhau không thì địa phương không nắm rõ. Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Phạm Duy K, sinh ngày 03/01/2021. Về tài sản, khoản nợ, công sức đóng góp của vợ chồng địa phương cũng không nắm được. Hiện nay anh H vẫn ở cùng với bố mẹ đẻ là ông Phạm Văn H1 và bà Nguyễn Thị T, bố mẹ anh thường xuyên đi làm không có mặt ở nhà, còn anh H cũng thường xuyên không có nhà, thi thoảng có về bố mẹ.
Chính quyền địa phương đã tiến hành niêm yết văn bản tố tụng của Toà án tại UBND và nơi cư trú của anh H là xóm H, xã N, tỉnh Ninh Bình.
Về yêu cầu xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung của chị D đối với anh H, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, HĐXX đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS; Bị đơn mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt và không trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có mặt tại phiên tòa là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo Điều 70; 72 BLTTDS.
Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 là đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS.
Về nội dung: Xét thấy vợ chồng chị Đỗ Thị Thúy D và anh Phạm Quốc H mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đỗ Thị Thúy D:
- - Xử ly hôn giữa chị Đỗ Thị Thúy D và anh Phạm Quốc H.
- - Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Duy K, sinh ngày 03/01/2021, hiện tại con chung ở cùng chị D. Giao cho chị Đỗ Thị Thúy D trách nhiệm nuôi dưỡng con chung là Phạm Duy K, sinh ngày 03/01/2021. Chấp nhận sự tự nguyên của chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- - Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét.
- - Về án phí: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng cho nguyên đơn, bị đơn được biết. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70; 71 BLTTDS. Bị đơn mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt và không xuất trình chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, không có mặt tại phiên tòa là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các Điều 70; 72 BLTTDS.
Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 là đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thúy D và anh Phạm Quốc H tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 7 năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là N, tỉnh Ninh Bình). Như vậy cuộc hôn nhân này là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Trong quá trình chung sống giữa chị Đỗ Thị Thúy D và anh Phạm Quốc H đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2024 đến nay, không ai còn quan tâm đến nhau, nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của
chị Đỗ Thị Thúy D để giải phóng cho hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3] Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đỗ Thị Thúy D và anh Phạm Quốc H có 01 con chung là Phạm Duy K, sinh ngày 03/01/2021. Hiện tại, con chung đang ở cùng với chị D. Xét nguyện vọng của chị D được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H trợ cấp nuôi dưỡng con chung: Chị D hiện đang lao động tại Công ty TNHH A (địa chỉ: Lô C, KCN P, phường P, tỉnh Phú Thọ) bình quân thu nhập từ 8-9 triệu đồng/tháng (Hợp đồng lao động ngày 11/6/2025); hiện tại cháu K đang học lớp 4-5 tuổi B1, trường Mầm non H2, xã T, tỉnh Tuyên Quang (có xác nhận của Trường mầm non H2). Quá trình giải quyết vụ án, anh H không đến Toà án trình bày quan điểm gì liên quan đến việc nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, ổn định và sự phát triển mọi mặt của con chung nên cần tiếp tục giao cháu Phạm Duy K, sinh ngày 03/01/2021 cho chị D được nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với Điều 71, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Chấp nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
[4] Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét giải quyết tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ, chồng trong vụ án này.
[5] Về án phí: Chị Đỗ Thị Thúy D phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 51, 56, 71, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đỗ Thị Thúy D và anh Phạm Quốc H.
2. Về con chung, cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Giao con chung Phạm Duy K, sinh ngày 03/01/2021 cho chị Đỗ Thị Thúy D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung trưởng thành và có khả năng tự lập. Hiện con chung đang ở cùng chị D.
Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đỗ Thị Thúy D không yêu cầu anh Phạm Quốc H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Phạm Quốc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Thúy D phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tại biên lai số 0001580 ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, chị Đỗ Thị Thúy D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị Thúy D, anh Phạm Quốc H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
5
6
Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Thuý D - Phạm Quốc H
