|
TÒA PHÚC THẨM TAND TỐI CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 614/2025/HS-PT Ngày: 29/12/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Thanh;
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Hưng;
Ông Ngô Quang Dũng.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm - Thư ký viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức T, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 538/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Đào Xuân H. Do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Xuân Q, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 219/2025/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
-
* Bị cáo bị kháng cáo:
Đào Xuân H, sinh năm 1976; căn cước công dân số [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số C P, khu F, phường H, thành phố Hải Phòng (trước là: Số C P, khu F, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Xuân Đ và bà Hoàng Thị S; có vợ là Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983; có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 09/11/2024 đến nay tại Trại Tạm giam số 2 - Công an thành phố H; vắng mặt.
-
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:
Bà Lê Xuân Q, sinh năm 1976; địa chỉ: Số B, hẻm A phố T, phường T, thành phố Hà Nội; có mặt.
-
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lê Xuân Q Ông Đỗ Văn H1, luật sư Công ty L và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: Số B, ngách A, phố T, phường Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.
-
* Bị hại trong vụ án có liên quan đến kháng cáo:
Ông Đinh Văn T2, sinh năm 1970; địa chỉ: Số B T, phường T, thành phố Hải Phòng (Trước là: Số B T, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Xuân H có mối quan hệ quen biết với bà Vũ Thị T3, sinh năm 1976, trú tại số B T, phường B, thành phố H (nay là phường T, thành phố Hải Phòng); ông Nguyễn Đức T4, sinh năm 1973, trú tại số A P, phường B, thành phố H (nay là phường T, thành phố Hải Phòng); ông Đinh Văn T2, sinh năm 1970, trú tại số B T, phường C, thành phố H (nay là phường T, thành phố Hải Phòng); ông Nguyễn Tất C, sinh năm 1974, trú tại số nhà H, ngõ A P, phường C, thành phố H (nay là phường T, thành phố Hải Phòng); bà Đinh Thị T5, sinh năm 1972, trú tại thôn C, xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương (nay là xã T, thành phố Hải Phòng).
Khoảng giữa năm 2022, do cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân, Đào Xuân H đưa ra thông tin gian dối với các ông bà nêu trên, Đào Xuân H nói rằng mình làm ở Ban quản lý dự án cầu Đ đang thi công dự án cáp treo T của Tập đoàn F tại cầu Đ thuộc thành phố C, tỉnh Hải Dương; nếu ai mua đất ruộng tại vị trí thi công dự án để cho thuê hoặc bán sẽ có lãi từ 30 triệu đến 40 triệu/sào. Do tin rằng Đào Xuân H nói thật nên từ ngày 22/6/2022 đến tháng 12/2022, bà T3 chuyển 350.000.000 đồng, bà T5 chuyển 420.000.000 đồng, ông T2 chuyển 775.000.000 đồng, ông T4 chuyển 150.000.000 đồng, ông C chuyển 210.000.000 đồng cho Đào Xuân H để mua đất. Tổng số tiền Đào Xuân H đã nhận được của các ông, bà trên là 1.905.000.000 đồng. Đào Xuân H đã dùng 1.272.000.000 đồng trả nợ các khoản vay trước của nhiều người khác trong đó trả 500.000.000 đồng cho bà Lê Xuân Q, sinh năm 1976, địa chỉ: Số B, hẻm A phố T, phường T, thành phố Hà Nội. Số tiền còn lại 633.000.000 đồng Đào Xuân H sử dụng cá nhân hết. Ngày 31/10/2024, Đào Xuân H đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 219/2025/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:
-
Về áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
-
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Xuân H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
-
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Xuân H 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/10/2024.
Bản án sơ thẩm đã quyết định trách nhiệm dân sự của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trong đó có bà Lê Xuân Q có nghĩa vụ hoàn trả cho người bị hại như sau: Buộc bà Lê Xuân Q phải hoàn trả cho ông Đinh Văn T2 số tiền 500.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự của bị cáo, những người liên quan khác, án phí, thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/10/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Xuân Q có đơn kháng cáo đề nghị huỷ bỏ phần quyết định của bản án sơ thẩm buộc bà phải hoàn trả cho ông Đinh Văn T2 số tiền 500.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Xuân Q giữ nguyên nội dung kháng cáo.
-
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lê Xuân Q có quan điểm: Đề nghị xác định bà Q tham gia tố tụng với tư cách là “bị hại” vì bị cáo chủ định lừa đảo, đưa ra các thông tin gian dối, bà Q không biết ông T2 là ai cả, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo.
-
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội có quan điểm: Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Lê Xuân Q, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Lê Xuân Q trong thời hạn, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của thành phố Hải Phòng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 22/6/2022 đến 23/12/2022, tại thành phố H, tỉnh Hải Dương, Đào Xuân H đưa ra thông tin gian dối với bà Vũ Thị T3, ông Nguyễn Đức T4, bà Đinh Thị T5, ông Đinh Văn T2, ông Nguyễn Tất C về việc Đào Xuân H làm việc tại Ban Q1 đang thi công dự án cáp treo T của Tập đoàn F tại cầu Đ thuộc thành phố C, tỉnh Hải Dương nên có khả năng mua đất ruộng giá rẻ tại khu vực Dự án cầu Đ để bán lại cho chủ dự án để cho thuê hoặc bán sẽ có lãi, làm cho họ tin tưởng chuyển tiền cho Đào Xuân H; tổng số tiền Đào Xuân H đã chiếm đoạt được của các bị hại là 1.905.000.000 đồng.
[3] Xét kháng cáo của bà Lê Xuân Q:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Sau khi chiếm đoạt được số tiền 1.905.000.000 đồng của các bị hại, H đã dùng 1.272.000.000 đồng trả nợ các khoản mà trước đó bị cáo đã vay mượn cho nhiều người, trong đó trả 500.000.000 đồng cho bà Lê Xuân Q, sinh năm 1976, địa chỉ: Số B, hẻm A phố T, phường T, thành phố Hà Nội.
Do đây là vụ án hình sự nên tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là căn cứ để xác định khung hình phạt đối với bị cáo và đồng thời số tiền này là vật chứng của vụ án. Do đó, các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ được ưu tiên áp dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Cụ thể:
Điều 47. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm.
2. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp”.
Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi quy định:
1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp....
Bộ luật Dân sự cũng có các quy định để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản như sau:
Điều 166: Quyền đòi lại tài sản.
1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
Điều 582. Quyền yêu cầu người thứ ba hoàn trả
Trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật đã giao tài sản cho người thứ ba thì khi bị chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản yêu cầu hoàn trả, người thứ ba có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác; nếu tài sản đó đã được trả bằng tiền hoặc có đền bù thì người thứ ba có quyền yêu cầu người đã giao tài sản cho mình bồi thường thiệt hại.
Với những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc bà Lê Xuân Q và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được bị cáo đã sử dụng số tiền chiếm đoạt bất hợp pháp của những người bị hại để trả nợ phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho các bị hại số tiền mà mình đã được nhận từ bị cáo Đào Xuân H là có căn cứ, đúng pháp luật.
Quan hệ vay nợ giữa bị cáo và bà Lê Xuân Q thông qua hợp đồng vay nợ là quan hệ dân sự, quyền và nghĩa vụ giữa các bên được bảo đảm bằng cách tự thỏa thuận giải quyết, nếu có tranh chấp thì bà Lê Xuân Q có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[4] Với những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Lê Xuân Q và quan điểm của Luật sư. Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, căn cứ quy định tại điểm e khoản 2 Điều 23; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, bà Lê Xuân Q phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, khoản 1, điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự;
-
Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Lê Xuân Q.
-
Giữ nguyên quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 219/2025/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đối với bà Lê Xuân Q như sau:
- Buộc bà Lê Xuân Q phải hoàn trả cho ông Đinh Văn T2 là bị hại trong vụ án số tiền 500.000.000 đồng;
-
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Xuân Q phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hải Thanh |
5
Bản án số 614/2025/HS-PT ngày 29/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 614/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
