|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST Ngày 24-12-2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị Mai và anh Lâm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hoàng Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh
Bà Hoàng Thị Thu Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngát - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 169/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tuyết M, sinh ngày 09/01/1988; Căn cước công dân số 036188020345, do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 02/7/2021.
Nơi ĐKHKTT: Xóm N, phường V, tỉnh Ninh Bình (Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ).
Chỗ ở hiện nay: TDP số C P, phường T, tỉnh Ninh Bình.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh ngày 05/8/1988; Căn cước công dân số 036088004321 do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 08/5/2017; Hộ chiếu số C3369221 do Cục Q cấp ngày 18/5/2017.
Nơi ĐKHKTT và địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn N, phường V, tỉnh Ninh Bình (Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ).
Nơi ở hiện nay: Đài Loan
(Tại phiên tòa vắng mặt chị Lê Thị Tuyết M có lý do; vắng mặt anh Nguyễn Văn L không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 27 tháng 10 năm 2025, bản tự khai nguyên đơn chị Lê Thị Tuyết M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Tuyết M và anh Nguyễn Văn L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là phường V, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 09/11/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc đến tháng 01/2018 anh L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, thời gian đầu anh L sang Đài Loan vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc hỏi thăm nhau, nhưng do vợ chồng không chung sống cùng nhau nên tình cảm vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là trước khi anh L đi xuất khẩu lao động đã chơi bời, nợ nần nhiều, anh đi làm không gửi tiền về trả nợ và nuôi con nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống về mọi mặt, mâu thuẫn vợ chồng được hai bên gia đình hoà giải nhưng không đem lại kết quả, đặc biệt từ đầu năm 2021 đến nay anh L cắt đứt mọi liên lạc với chị và không quan tâm gì đến mẹ con chị, cũng từ khi anh L đi xuất khẩu lao động đến nay anh không về lần nào, vợ chồng sống ly thân. Nay chị M xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh Nguyễn Văn L có 03 con chung là Nguyễn Hải Y, sinh ngày 22/4/2013; cháu Nguyễn Khánh H, sinh ngày 26/7/2015 và cháu Nguyễn Thu T, sinh ngày 25/6/2017. Hiện cả 03 cháu đang chung sống với bố mẹ đẻ của anh L, chị có về đón con nhưng bố mẹ anh L không cho đón, hiện chị để 03 cháu ăn ở sinh hoạt cùng ông bà nội. Khi ly hôn, chị M để anh L nuôi dưỡng cả 03 con, chị không cấp dưỡng tiền nuôi con cho anh L, việc chăm sóc và nuôi dưỡng các con là quyền của chị.
- Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân giữa chị và anh L không có gì liên quan, chị không yêu cầu tòa án giải quyết.
Do hiện nay anh Nguyễn Văn L đang cư trú và lao động tại Đài Loan, do không bố trí thời gian đến Toà án trong quá trình giải quyết vụ án nên chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ theo quy định của pháp luật.
* Tại bản tự khai ngày 06/11/2025, Biên bản làm việc ngày 13 tháng 11 năm 2025 với ông Nguyễn Văn T1 (bố anh Nguyễn Văn L) trình bày: Chị Lê Thị Tuyết M và anh Nguyễn Văn L có đăng ký kết hôn vào ngày 09/11/2012, tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là phường V, tỉnh Ninh Bình), sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 anh L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, địa chỉ cụ thể anh L không cho ông biết, từ khi con ông (anh L) đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan hai vợ chồng chị M sống ly thân đến nay. Nay chị M làm đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Văn L ông không có ý kiến gì, anh L có thông tin lại cho ông vì điều kiện công việc nên anh có thông tin về gia đình anh nhất trí việc ly hôn với chị M. Anh Nguyễn Văn L và chị Lê Thị Tuyết M có 03 con chung là Nguyễn Hải Y, sinh ngày 22/4/2013; Nguyễn Khánh H, sinh ngày 26/7/2015 và Nguyễn Thu T, sinh ngày 25/6/2017. Hiện cả 03 cháu đang chung sống với gia đình ông vì từ khi anh L đi lao động tại Đài Loan, gia đình ông đã nuôi cả 03 cháu. Khi ly hôn, anh Nguyễn Văn L có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cả 03 cháu, anh L vì điều kiện công việc không gửi văn bản ủy quyền về được, tuy nhiên anh L vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình và nhờ gia đình tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cả 03 cháu cho đến khi anh L về nước. Việc cấp dưỡng nuôi cả 03 cháu do gia đình ông tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung, công nợ chung, chị M không đề nghị Toà án xem xét, giải quyết thì gia đình ông cũng không có ý kiến gì. Hiện nay anh L đang ở Đài Loan, gia đình vẫn thường xuyên liên lạc với anh L. Do anh L không về Việt Nam được nên gia đình ông nhận thay anh L và có trách nhiệm thông báo cho anh L được biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được Toà án gửi thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Nguyễn Văn T1 (bố đẻ anh L) nhận thay, anh đã biết được nội dung khởi kiện của chị Lê Thị Tuyết M, đến nay anh không có yêu cầu phản tố. Anh L không có tài liệu chứng cứ gì giao nộp cho Tòa án, anh L vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên toà xét xử mà không có lý do. Đến nay anh L không có quan điểm của mình đối với vụ án.
Tại phiên toà hôm nay, chị Lê Thị Tuyết M vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày, anh Nguyễn Văn L vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21; Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tống đạt các quyết định tố tụng theo quy định tại các Điều 170, 171, 175, 177, 220 BLTTDS năm 2015. Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 BLTTDS. Bị đơn không có văn bản và tài liệu chứng cứ giao nộp cho Tòa án là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 BLTTDS. Về nội dung vụ án, theo quy định tại Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; có đủ căn cứ xử ly hôn giữa chị Lê Thị Tuyết M và anh Nguyễn Văn L. Con chung đề nghị giao 03 con chung là Nguyễn Hải Y, sinh ngày 22/04/2013; Nguyễn Khánh H, sinh ngày 26/07/2015 và Nguyễn Thu T, sinh ngày 25/06/2017 cho anh Nguyễn Văn L nuôi dưỡng, chăm sóc, hiện cả 03 cháu đang chung sống với bố mẹ đẻ của anh L, anh L vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình và nhờ bố mẹ anh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu cả 03 cháu cho đến khi anh L về nước. Anh L không yêu cầu chị M cấp dưỡng tiền nuôi con chung, chị M được quyền chăm sóc, thăm nom con chung sau ly hôn, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con. Tài sản chung, công nợ của chị M, anh L không đề nghị Toà án giải quyết nên không cần đề cập, giải quyết. Án phí chị M phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn là anh Nguyễn Văn L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn N, phường V, tỉnh Ninh Bình (Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ); Nhưng qua việc xác minh tại Phòng Q1 - Công an tỉnh N, kết hợp lời trình bày của ông Nguyễn Văn T1 (bố đẻ anh L), tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết đơn khởi kiện của chị Lê Thị Tuyết M thì anh Nguyễn Văn L đang cư trú và lao động tại Đài Loan; nên căn cứ Điều 28, Điều 39, Điều 469 BLTTDS, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về việc tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân, TAND khu vực 9 - Ninh Bình giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” giữa chị Lê Thị Tuyết M và anh Nguyễn Văn L là đúng quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 thông qua ông Nguyễn Văn T1 (bố đẻ anh L) nhưng anh L vẫn vắng mặt. Chị Lê Thị Tuyết M có đơn xin xét xử vắng mặt nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị M, anh L.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Tuyết M và anh Nguyễn Văn L tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 09 tháng 11 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là phường V, tỉnh Ninh Bình), xác định đây quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Quá trình chung sống giữa chị Lê Thị Tuyết M và anh Nguyễn Văn L đã phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị M để giải phóng cho hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3] Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị Tuyết M và anh Nguyễn Văn L có 03 con chung là Nguyễn Hải Y, sinh ngày 22/4/2013; Nguyễn Khánh H, sinh ngày 26/7/2015 và Nguyễn Thu T, sinh ngày 25/6/2017. Hiện cả 03 cháu đang chung sống với bố mẹ đẻ của anh L là ông Nguyễn Văn T1, bà Hoàng Thị M1 (Trú tại: Xóm N, N, phường V, tỉnh Ninh Bình) vì từ khi anh L đi lao động tại Đài Loan, ông bà nuôi cả 03 cháu. Nguyện vọng của 03 con chung được tiếp tục ở cùng với bố và hiện tại do ông bà nội chăm sóc; khi ly hôn, anh L có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu cả 03 cháu và anh L không yêu cầu chị M cấp dưỡng tiền nuôi con.
Xét nguyện vọng của chị Lê Thị Tuyết M trong việc nuôi con chung thì thấy: Chị M có nguyên vọng nuôi con chung, và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con, nhưng nếu anh L có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu chị cấp dưỡng tiền nuôi con chung thì chị nhất trí.
Xét thấy, việc anh L có nguyện vọng nuôi cả 03 con chung, và không yêu cầu chị M cấp dưỡng tiền nuôi con chung là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật nên được chấp nhận; các cháu vẫn đang được sinh sống, cư trú ổn định, có môi trường sống tốt nhất để cho các cháu được phát triển lành mạnh cả về thể chất và tinh thần, anh L đang cư trú và lao động tại Đài Loan ở xa nhà, ông Nguyễn Văn T1 (là bố đẻ anh L) đã nhận trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu giúp anh L, khi nào anh L về nước sẽ có trách nhiệm bàn giao các cháu lại cho anh L. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của con chung nên cần tiếp tục giao cả 03 con chung cho anh L tiếp tục được nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 71, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị Tuyết M không có nguyện vọng nuôi con chung, anh L có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu chị M cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[5] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Lê Thị Tuyết M không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết; anh Nguyễn Văn L không có ý kiến gì về phần tài sản chung và công nợ của vợ chồng nên về phần tài sản chung và công nợ của vợ chồng chị M, anh L Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị Tuyết M phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28, Điều 39, Điều 147, 271, 273, 469, 479 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về việc tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân;
- Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 71; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Lê Thị Tuyết M và anh Nguyễn Văn L.
2. Về nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung:
Giao 03 con chung là cháu Nguyễn Hải Y, sinh ngày 22/4/2013; Nguyễn Khánh H, sinh ngày 26/7/2015 và Nguyễn Thu T, sinh ngày 25/6/2017 cho anh Nguyễn văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Chị Lê Thị Tuyết M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Chị Lê Thị Tuyết M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về án phí ly hôn sơ thẩm:
Chị Lê Thị Tuyết M phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tại biên lai số 0002279 ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, chị Lê Thị Tuyết M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Chị Lê Thị Tuyết M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ; anh Nguyễn Văn L được quyền kháng cáo trong thời hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lưu Xuân Tiến Nguyễn Văn H1 |
Vũ Hoàng Giang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Hồng Thái Nguyễn Thế Bình |
Vũ Hoàng G |
Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Tuyết M - Nguyễn Văn L
