|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – BẮC NINH Bản án số: 61/2025/HS-ST Ngày 23/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đức Hùng – Giáo viên nghỉ hưu.
Ông Nguyễn Văn Giang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2025/TLST-HS ngày 05/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HS ngày 09/12/2025 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Đỗ Thành Đ, sinh ngày 03/10/2007 ( tên gọi khác: Không)
Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, thành phố Hà Nội.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 và bà Đỗ Thị N, sinh năm 1983. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Chưa có vợ, con
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2025 đến nay, hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B, P trại T, có mặt tại phiên tòa.
-
Hoàng Mạnh H, sinh ngày 21/12/2007 ( Tên gọi khác: Không)
Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã T, thành phố Hà Nội.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1963. Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ út. Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Tại bản án số 10/2025/HS-ST ngày 21/01/2025, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt H 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 44 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2025 đến nay, hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B, P trại T, có mặt tại phiên tòa.
-
Ngô Việt A, sinh ngày 12/02/2008 ( Tên gọi khác: Không)
Nơi ĐKHKTT: Thôn G, xã T, thành phố Hà Nội
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Quang P1, sinh năm 1984 và bà Trần Thị M1, sinh năm 1988. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Tại bản án số 10/2025/HS-ST ngày 21/01/2025, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt Việt Anh 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2025 đến nay, hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B, P trại T, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Việt A và Hoàng Mạnh H: Bà Phan Thị Thu H1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Ngô Việt A: Ông Ngô Quang P1, sinh năm 1984 ( là bố đẻ bị cáo).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Hoàng Mạnh H: Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1963 ( là mẹ đẻ bị cáo).
Tất cả đều có mặt tại phiên tòa
Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường P, tỉnh Bắc Ninh: Ông Đàm Mạnh H2 – Phó bí thư ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Nghiêm Văn S, sinh năm 1964, trú tại thôn Q, xã V, tỉnh Bắc Ninh. ( Vắng mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Lê Thị L, sinh năm 1968, trú tại thôn Ấ, xã Đ, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt)
- - Chị Hà Phương A1, sinh ngày 10/11/2007, trú tại thôn T, xã P, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt)
- - Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
- - Ông Ngô Quang P1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn G, xã T, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
- - Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã T, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Việt A, Hoàng Mạnh H, Đỗ Đình V, sinh ngày 09/3/2010, trú tại thôn C, xã T, thành phố Hà Nội; Nguyễn Đỗ Thành Đ và Ngô Quang K, sinh ngày 02/12/2009, trú tại thôn Đ, xã T, thành phố Hà Nội là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10/10/2025 tại quán Internet ở thôn G, xã T, thành phố Hà Nội, H rủ K và Đ tối đi trộm cắp tài sản, K và Đ đều đồng ý.
Khoảng 00 giờ 00, ngày 11/10/2025, Hoàng Mạnh H, Ngô Quang K và Nguyễn Đỗ Thành Đ đang chơi game ở thôn G, xã T, thành phố Hà Nội thì cùng rủ nhau đi trộm cắp dây điện đã qua sử dụng để bán lấy tiền chi tiêu. Đ điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen-xám, không gắn BKS, chở H và K đi đến bãi phế liệu ở tổ dân phố H, phường P, tỉnh Bắc Ninh do ông Nghiêm Văn S làm chủ. Tại đây, H ngồi trên xe mô tô đối diện bên kia đường để cảnh giới, còn Đ và K trèo qua tường dây thép vào trong bãi phế liệu để lấy dây điện rồi ném qua tường rào. Sau đó, Đ và K trèo ra ngoài, gọi H điều khiển xe mô tô đến đỗ sát vào đống dây điện đặt lên bao tải dứa lấy ở bãi phế liệu, quấn lại để lên yên xe. Đ điều khiển xe mô tô chở H và K đi đến 1 bãi đất trống ven đường cách bãi phế liệu này khoảng 01 km. H rút dây điện ở xe mô tô ra, lấy xăng và đưa bật lửa cho K để K châm lửa đốt dây điện lấy lõi đồng. Đ và K nhặt que gỗ để gẩy dây đồng cho nhanh nguội rồi cho dây đồng vào trong bao tải dứa, Đ điều khiển xe mô tô chở K đem theo bao tải dứa bên trong chứa 17 kg dây đồng đi đến nhà bà Lê Thị L bán 17 kg dây đồng với giá 3.500.000 đồng và để lại bao tải tại nhà bà L, còn H ngồi đợi K và Đ về. Khi bán tài sản trộm cắp cho bà L thì K và Đ không nói cho bà L biết tài sản là do trộm cắp mà có. Sau đó, K và Đ đi về chỗ H đang đợi, Đ chia tiền cho K và H mỗi người 1.100.000 đồng, còn 200.000 đồng thì K, Đ và H cùng nhau đi ăn hết. Số tiền 1.100.000 đồng Đ, K và H đã chi tiêu cá nhân hết.
Trưa ngày 11/10/2025, tại quán tại quán I tại thôn G, xã T, thành phố Hà Nội, H rủ Việt A, V và Đ đi trộm cắp tài sản thì Việt A, V và Đ đều đồng ý. Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 12/10/2025, Ngô Việt A điều khiển xe mô tô HaLim, màu trắng, loại 50W3, biển số 29AB-454.37 chở Đỗ Đình V từ quán I1 “Chú H2” tại thôn G, xã T, thành phố Hà Nội đi đến nhà nghỉ H3 ở xã Đ, thành phố Hà Nội để đón Hoàng Mạnh H. Sau đó, Việt A điều khiển xe mô tô chở H và V đi đến bãi phế liệu ở tổ dân phố H, phường P, tỉnh Bắc Ninh do ông Nghiêm Văn S làm chủ mục đích để trộm cắp tài sản. Khoảng 00 giờ 30 phút cùng ngày, Việt A, H và V đi đến bãi phế liệu. Việt Anh và Võ trèo qua hàng rào bằng dây thép vào bên trong bãi phế liệu trộm cắp dây điện rồi ném qua hàng rào, còn H đứng ngoài cảnh giới. Sau đó, Việt A và Võ trèo ra ngoài qua hàng rào. Tại đây, Việt A, H và V cho dây điện vào bao tải rồi quấn lại, V điều khiển xe mô tô chở bao tải bên trong chứa dây điện vừa trộm cắp được 2 chuyến đem ra bãi đất trống tại khu K, phường P, tỉnh Bắc Ninh để cất giấu. Khi V quay về bãi phế liệu thì Việt A và V tiếp tục trèo vào bãi phê liệu lấy dây điện rồi vứt ra ngoài vỉa hè. Sau đó, Việt A và Võ trèo ra ngoài, để dây điện cho vào bao tải, đặt lên yên xe mô tô để H điều khiển xe chở 02 chuyến đi ra điểm Võ vừa cất giấu. Lúc này, Nguyễn Đỗ Thành Đ điều khiển xe mô tô Wave màu đen, xám, không BKS đến, Đ đứng ở bên đường cảnh giới, V và V cho dây điện lên bao tải, quấn lại, còn H mượn xe mô tô của Đ chở Việt A và dây điện đi đến điểm V vừa cất giấu. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, Việt A và V đã chở được 05 bó dây điện đi cất giấu, khi quay lại để chở bó thứ 06 thì bị ông S và quần chúng nhân dân phát hiện, tri hô đuổi bắt. Lúc này, lực lượng Công an phường P đang tuần tra bắt quả tang Việt A, còn V, H và Đ bỏ chạy thoát.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ:
- - 01 bao tải dứa màu trắng, bên trong chứa nhiều sợi dây điện đã qua sử dụng có trọng lượng 21kg.
- - 05 bó dây điện phế liệu được quấn bên trong bao tải có trọng lượng 161 kg và 17 kg đồng phế liệu.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Ha Lim, màu trắng, loại 50W3, biển số 29AB- 454.37 là xe V1 sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen-xám, không BKS là xe Đ sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản.
- - 01 điện thoại di động Iphone 12, màu trắng, IMΕΙ 358284937538526 của Việt A.
- - Ông S giao nộp 01 USB có chứa dữ liệu camera ghi lại hình ảnh các bị cáo trộm cắp tại bãi phế liệu của ông S ngày 11/10/2025 và ngày 12/10/2025.
Ngày 14/10/2025, Hoàng Mạnh H, Ngô Quang K và Nguyễn Đỗ Thành Đ đã đến Công an phường P, tỉnh Bắc Ninh đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Ngày 07/11/2025, Đỗ Đình V đã đến Công an phường P, tỉnh Bắc Ninh đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Tại Kết luận định giá tài sản số 01/ KL-HĐĐGTS ngày 14/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường P kết luận: “182 kg dây điện phế liệu có tổng giá trị là 18.000.000 đồng”.
Tại Kết luận định giá tài sản số 02/ KL-HĐĐGTS ngày 17/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường P kết luận: : “17kg đồng phế liệu có tổng giá trị là 3.400.000 đồng”.
Bản Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 05/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh để xét xử các bị cáo Nguyễn Đỗ Thành Đ, Hoàng Mạnh H, Ngô Việt A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Đ, H, Việt A đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện hợp pháp của bị cáo H, Việt A đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Chúng tôi cùng với gia đình bị cáo Đ tự nguyện bồi thường cho bà Lê Thị L số tiền 3.500.000 đồng và không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị N trình bày: Tôi tự nguyện cùng với gia đình bị cáo Việt A, H bồi thường cho bà Lê Thị L số tiền 3.500.000 đồng và tôi không có yêu cầu gì.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đỗ Thành Đ, Hoàng Mạnh H, Ngô Việt A phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Về hình phạt chính:
- + Áp dụng khoản 1, Điều 173, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 56; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 101 BLHS năm 2015; Điều 12; Điều 119; Điều 122; 127; 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt: Bị cáo Ngô Việt A từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù. Tổng hợp với Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 21/01/2025, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt Việt Anh 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” buộc Việt A phải chấp hành chung cho cả 02 bản án là từ 30 tháng tù đến 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam ngày 12/10/2025.
- + Áp dụng khoản 1, Điều 173 BLHS, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 56; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 101 BLHS năm 2015; Điều 12; Điều 119; Điều 122; Điều 127; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Mạnh H từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Tổng hợp với Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 21/01/2025, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt H 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 44 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” buộc H phải chấp hành chung cho cả 02 bản án là từ 37 tháng tù đến 40 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam ngày 14/10/2025.
- + Áp dụng khoản 1, Điều 173, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đỗ Thành Đ từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam ngày 14/10/2025.
Về hình phạt bổ sung:
- + Áp dụng Khoản 6, Điều 91 BLHS: Không áp dụng hình phạt tiền đối với 2 bị cáo Ngô Việt A và Hoàng Mạnh H.
- + Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Đỗ Thành Đ do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về vật chứng:
(Lưu hồ sơ 03 đĩa DVD ghi hình có âm thanh hỏi cung 3 bị can và 01 usb ghi lại lại hình ảnh các bị cáo phạm tội ngày 11/10/2025 và ngày 12/10/2025).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc hội: Miễn án phí HSST đối với 2 bị cáo Ngô Việt A và Hoàng Mạnh H do 2 bị cáo là hộ cận nghèo, bị cáo Đ phải chịu án phí HSST 200.000 đồng.
Trợ giúp pháp lý bào chữa cho các bị cáo Hoàng Mạnh H, Ngô Việt A đề nghị HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS, chương áp dụng đối với người chưa thành niên và Luật tư pháp người chưa thành niên và xem xét việc các bị cáo thời điểm phạm tội chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế và cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Hoàng Mạnh H, Ngô Việt A đồng ý với lời bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức hình phạt thấp nhất.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tham gia tranh luận gì với quan điểm của Kiểm sát viên.
Khi nói lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 00 giờ sáng ngày 11/10/2025 đến rạng sáng ngày 11/10/2025 và từ 0 giờ 5 phút ngày 12/10/2025 đến 02 giờ 30 phút sáng ngày 12/10/2025, Ngô Việt A, Hoàng Mạnh H, Đỗ Đình V, Nguyễn Đỗ Thành Đ và Ngô Quang K đã có hành vi lén lút vào bãi phế liệu ở tổ dân phố H, phường P, tỉnh Bắc Ninh để trộm cắp dây điện phế liệu của ông Nghiêm Văn S cụ thể như sau: Khoảng 00 giờ ngày 11/10/2025, H, Đ và K có hành vi trộm cắp 17 kg đồng phế liệu có giá trị là 3.400.000 đồng. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 12/10/2025, Ngô Việt A, H, Đ và Đỗ Đình V có hành vi trộm cắp 182 kg dây điện phế liệu có tổng giá trị là 18.000.000 đồng. Như vậy, Hoàng Mạnh H, Nguyễn Đỗ Thành Đ thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tổng trị giá tài sản là 21.400.000 đồng. Ngô Quang K thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản trị giá tài sản là 3.400.000 đồng. Ngô Việt A và Đỗ Đình V thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản trị giá tài sản là 18.000.000 đồng. Tại thời điểm phạm tội, Ngô Quang K được 15 tuổi 11 tháng 01 ngày; Đỗ Đình V được 15 tuổi 07 tháng, chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Do vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Đỗ Thành Đ, Hoàng Mạnh H và Ngô Việt A đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh truy tố các bị cáo theo điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn, tạo ra tâm lý bất an trong nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong xã hội.
[4] Xét tính chất, vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Về tính chất, vai trò: Đây là vụ án đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn vì không có sự bàn bạc, phân công phân nhiệm. Các bị cáo là bạn bè khi đi chơi gặp nhau thì H là người khởi xướng việc đi trộm cắp và rủ các bị cáo Đ, Việt A, K và V cùng đi trộm cắp để bán lấy tiền ăn tiêu. Các bị cáo cùng đồng ý và cùng đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do vậy, bị cáo H có vai trò cao hơn các bị cáo Đ, Việt A.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn Đỗ Thành Đ “ phạm tội 02 lần trở lên” nên phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án số 10/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 bị cáo Hoàng Mạnh H, Ngô Việt A bị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt tù cho hưởng án treo về tội “ Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự, trong thời gian thử thách án treo các bị cáo lại phạm tội. Nhưng do các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 12 Luật tư pháp người chưa thành niên thì các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Đ, H sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bà Lê Thị L số tiền 3.500.000 đồng. Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản, không có yêu cầu gì và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do vậy, các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên Hội đồng xét xử thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần phạt bổ sung các bị cáo một khoản tiền sung ngân sách nhà nước nhưng xét thấy các bị cáo H, Việt A là người chưa thành niên, gia đình thuộc hộ cận nghèo; bị cáo Đ không có công ăn việc làm, các bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì đối với các bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
Ông Nghiêm Văn S có đơn xin lại tài sản nên ngày 19/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã trả 182 kg dây điện phế liệu và 17 kg đồng phế liệu cho ông Nghiêm Văn S là phù hợp.
Đối với xe mô tô biển số 29AB-454.37 và 01 điện thoại di động Iphone 12 màu trắng là tài sản của chị Hà Phương A1, chị Phương A1 cho Việt A mượn và chị không biết Việt A mượn sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên ngày 19/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã trả cho chị Hà Phương A1 chiếc xe mô tô biển số 29AB-454.37 và 01 điện thoại di động Iphone 12 màu trắng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với xe mô tô Honda Wave màu đen-xám, không BKS: Qua điều tra xác minh, tra cứu không có trong dữ liệu xe máy vật chứng và xác định xe mô tô có biển số 98D1-315.24, chủ xe là chị Đoàn Thị D, sinh năm 1981, trú tại thôn S, xã H, tỉnh Bắc Ninh. Năm 2022 chị D đã bán xe trên cho chị Đỗ Thị N (là mẹ của Đ). Ngày 10/10/2025, chị N không có ở nhà, chìa khóa xe mô tô chị cắm ở ổ khóa điện xe, Đ đã tự lấy xe mô tô để sử dụng làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản mà không hỏi ý kiến của chị N nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không đề cập xử lý đối với chị N về hành vi giao xe mô tô cho người không có giấy phép lái xe mô tô là phù hợp với quy định của pháp luật. Ngày 19/11/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã trả xe mô tô trên cho chị N là đúng quy định pháp luật.
Đối với 01 USB có chứa dữ liệu camera ghi lại hình ảnh các bị cáo trộm cắp tại bãi phế liệu của ông S ngày 11/10/2025 và ngày 12/10/2025 đã được cơ quan điều tra lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[7] Liên quan trong vụ án có:
Đối với bà Lê Thị L đã mua tài sản do Đ, H và K trộm cắp nhưng bà L không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có và Đ, H, K không nói cho bà L biết nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với bà L về tội “Tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có” là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Ngô Quang K và Đỗ Đình V: Thời điểm phạm tội, K được 15 tuổi 11 tháng 01 ngày; V được 15 tuổi 07 tháng nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự nên Cơ quan điều tra không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Ngô Quang K và Đỗ Đình V. Ngày 19/10/2025, Công an phường P ra Quyết định xử lý hành chính về hành vi trộm cắp tài sản đối với K và V bằng hình thức: “Cảnh cáo” là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với chiếc bật lửa mà H đưa cho K sử dụng để đốt dây điện lấy lõi đồng và 02 chiếc que gỗ mà Đ và K sử dụng để gẩy lõi đồng cho nhanh nguội, Cơ quan điều tra chưa thu hồi được, khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau.
Đối với các hành vi vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông của Nguyễn Đỗ Thành Đ: điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe, xe không gắn biển số, chở 02 người trên xe, không đội mũ bảo hiểm và giao xe cho người không đủ điều kiện; của Hoàng Mạnh H: người được chở trên xe mô tô không đội mũ bảo hiểm; của Ngô Quang K: người được chở trên xe mô tô không đội mũ bảo hiểm; của Ngô Việt A: không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, điều khiển xe mô tô chở 02 người trên xe và của Đỗ Đình V: người được chở trên xe mô tô không đội mũ bảo hiểm đã vi phạm quy định tại Nghị định 168/2024/NĐ-CP. Ngày 19/10/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B có công văn số 2178 gửi đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh B đề nghị xử lý hành chính đối với hành vi vi phạm về trật tự, an toàn giao thông của Nguyễn Đỗ Thành Đ, Hoàng Mạnh H, Ngô Quang K, Ngô Việt A và Đỗ Đình V là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Các bị cáo Hoàng Mạnh H, Ngô Việt A thuộc hộ cận nghèo và tại phiên tòa các bị cáo đề nghị được miễn án phí nên miễn án phí cho các bị cáo theo quy định pháp luật. Bị cáo Nguyễn Đỗ Thành Đ phải chịu án phí theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đỗ Thành Đ, Hoàng Mạnh H và Ngô Việt A phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”
* Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 38, Điều 56, Điều 90, Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 12, Điều 119, Điều 122, Điều 127, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh H 15 ( Mười lăm) tháng tù. Chuyển 22 tháng tù cho hưởng án treo tại bản án số 10/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội thành án giam. Tổng hợp hình phạt của cả hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 37 tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/10/2025 ( được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/9/2024 đến ngày 06/10/2024 của bản án 10/2025/HS-ST ngày 21/01/2025).
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 và Điều 56, Điều 90, Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 12, Điều 119, Điều 122, Điều 127, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt bị cáo Ngô Việt A 10( Mười) tháng tù. Chuyển 20 tháng tù cho hưởng án treo tại bản án số 10/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội thành án giam. Tổng hợp hình phạt của cả hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 30 ( Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/10/2025 ( được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/9/2024 đến ngày 06/10/2024 của bản án 10/2025/HS-ST ngày 21/01/2025).
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đỗ Thành Đ 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/10/2025.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Đỗ Thành Đ, Hoàng Mạnh H, Ngô Việt A 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
* Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Đỗ Thành Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Mạnh H và Ngô Việt A.
* Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – BẮC NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 61/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đ
